Hóa học của vắc-xin

Chủ đề vắc-xin là chủ đề muôn thuở luôn được mọi người quan tâm, đặc biệt là các bà mẹ bỉm sữa. Vì việc tiêm phòng nhằm giúp bảo vệ sức khỏe của chúng ta trước các loại bệnh hiểm nguy ngày càng tăng nhanh. Nhưng có một điều đáng buồn là ở đâu đó vẫn có một đôi nơi vắc-xin được tiêm phòng không rõ nguồn cội. cho nên ở một số quốc gia trên thế giới đặc biệt là Mỹ, một số phụ huynh quyết định không tiêm ngừa cho con cái của họ bất chấp những lợi ích của nó mang lại.



Trong khi đây không phải là nguyên tố duy nhất, một phần bị đỗ lỗi là do thông tin sai lệch về thành phần hóa học của vắc xin và những tác động các hợp chất này có thể có. vì vậy để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, chủ đề tiếp theo của blog sẽ là hóa học của vắc-xin nhé!

Thành phần hoạt tính

Nói chung, trong vắc-xin có một số thành phần chính là kháng nguyên, chất ổn định, chất bảo quản và tá dược. Trong đó, các thành phần hoạt tính, hoặc kháng nguyên, là một phần quan trọng, chịu nghĩa vụ miễn nhiễm đối với bệnh. Nó bao gồm một dạng biến đổi của vi-rút, vi khuẩn hoặc độc tố gây bệnh; bản chất xác thực có thể khác nhau giữa các vắc-xin.

Một số vắc-xin sử dụng một dạng virus bất hoạt; điều này được thực hiện bằng cách xử lý vi-rút bằng một hóa chất giết chết các phần của nó, và làm cho nó không thể tái tạo. Trong khi nó không thể tái hiện, việc tiêm/bơm vẫn sẽ bắt đầu khơi mào miễn dịch từ cơ thể, gây ra khả năng miễn nhiễm, mặc dù điều này có thể đòi hỏi một vài liều trong một số trường hợp. Ưu điểm của phương pháp tiêm chủng này là nó thậm chí có thể được gây ra cho những người có hệ miễn dịch yếu.

Các thành phần hoạt tính khác sẽ chỉ cấu thành từ một phần của vi khuẩn hoặc vi-rút gây ra khả năng miễn dịch phát triển – các phần khác của mầm bệnh gây ra các triệu chứng bệnh được loại bỏ. ngoại giả, trong một số trường hợp vi khuẩn, các độc tố do vi khuẩn tạo ra cũng có thể được sử dụng để tạo ra phản ứng miễn nhiễm. Trong một số trường hợp vi-rút yếu cũng có thể được sử dụng. Điều này gây ra phản ứng miễn nhiễm mà không gây ra các triệu chứng nghiêm trọng, và có lợi thế là thường gây miễn dịch vĩnh viễn.

Tá dược

Tá dược là các hợp chất hóa học được bổ sung vào vắc-xin để giúp tăng cường đáp ứng miễn nhiễm của thân. Những chất này không có trong thảy các loại vắc-xin, thí dụ như trong các loại vắc-xin sống, chẳng hạn như vắc-xin MMR (đây là loại vắc-xin được chỉ định để tạo miễn nhiễm phòng 3 bệnh: sởi, quai bị và rubella cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên), chúng không có mặt. Việc khám phá ra những chất này phần lớn là tình cờ.

Khi vắc-xin được sản xuất lần trước hết, sự dị biệt về hiệu quả của các vắc-xin giống nhau trong các lô khác nhau đã được ghi nhận. Điều này đã được giả thuyết là do mức độ ô nhiễm của vắc-xin; tuy nhiên, sự sạch sẽ tiếp theo của các mạch phản ứng mà chúng được sinh sản đích thực đã làm giảm hiệu quả tổng thể. Khi nó bật ra, sự ô nhiễm trong các mạch phản ứng thực sự đã giúp tăng cường hiệu quả của vắc-xin.

thí điểm tiếp theo đã công nhận rằng một số hợp chất cố định, khi được bổ sung vào vắc-xin với số lượng nhỏ, tăng cường đáp ứng miễn nhiễm với vắc-xin. Đặc biệt, các muối nhôm đã được tìm thấy có tác dụng đáng chú ý, và vẫn là tá dược chính được sử dụng trong vắc-xin hiện tại.

Cơ chế mà chúng tăng cường phản ứng miễn dịch vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng người ta cho rằng chúng giúp giữ cho thành phần hoạt tính của vắc-xin gần chỗ tiêm, dẫn đến việc nó dễ tiếp cận hơn đối với các tế bào miễn dịch.

Trong khi các hợp chất nhôm được dùng như tá dược đã được phối hợp với một số phản ứng nhỏ tại vị trí xung quanh tại chỗ tiêm, không có chứng cứ cho thấy chúng gây ra bất kỳ ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng lâu dài. Khi tuân theo lộ trình vắc-xin được đề xuất, hàm lượng nhôm vẫn ở mức an toàn; vắc-xin chỉ chứa khoảng một miligam nhôm và không có bằng chứng về bất kỳ nguy cơ nào đối với trẻ nít hoặc trẻ sơ sinh.

Các muối nhôm trong một số vắc-xin được cấp phép của Mỹ là nhôm hydroxit, nhôm photphat, phèn nhôm (kali sunfat), hoặc muối nhôm hẩu lốn. thí dụ như muối nhôm được dùng trong vắc-xin DTaP, đây là vắc xin liên hợp phế cầu khuẩn và vắc-xin viêm gan B.

Chất kháng sinh

Một số chất kháng sinh có thể được dùng trong một số sinh sản vắc-xin để giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn trong quá trình sinh sản. Kết quả là, một lượng nhỏ chất này có thể có mặt trong một số vắc-xin.

do một số chất kháng sinh có thể gây phản ứng dị ứng nghiêm trọng ở những trẻ con bị dị ứng (như nổi mề đay, sưng ở cổ họng và áp huyết thấp), một số phụ huynh lo ngại rằng chúng có trong vắc xin có thể có hại. Tuy nhiên, chất kháng sinh có nhiều khả năng gây ra phản ứng dị ứng nghiêm trọng (như penicillin, cephalosporin và thuốc sulfa) không được dùng trong sinh sản vắc-xin, và do đó không được chứa trong vắc-xin.

ví dụ về kháng sinh được sử dụng trong quá trình sinh sản vắc-xin bao gồm neomycin, polymyxin B, streptomycin và gentamicin. Một số loại kháng sinh được sử dụng trong sản xuất vắc-xin có mặt trong vắc-xin, hoặc với số lượng rất nhỏ hoặc không thể phát hiện được.

Một thí dụ nữa về chất kháng sinh được sử dụng trong một số phương pháp sản xuất để làm vắc-xin vi-rút cúm bất hoạt. Chúng được dùng để làm giảm sự phát triển của vi khuẩn trong trứng trong các bước chế biến, vì trứng không phải là sản phẩm sát trùng. Các kháng sinh được dùng được giảm xuống còn rất nhỏ hoặc chẳng thể phát hiện trong các bước thanh lọc tiếp theo. Một lượng nhỏ kháng sinh còn lại chứa trong vắc-xin chưa được phối hợp rõ ràng với các phản ứng dị ứng nghiêm trọng.

Chất ổn định

Chất ổn định được thêm vào vắc-xin để bảo vệ nó khỏi các điều kiện bất lợi có thể ảnh hưởng đến hiệu quả, cho phép nó được lưu trữ trong thời gian dài hơn. Một loạt các chất ổn định khác nhau có thể được dùng; thí dụ như đường, axit amin và protein có thể được sử dụng cho mục đích này. Chúng cũng ngăn ngừa các thành phần vắc-xin bám dính vào bất kỳ bình chứa nào. Nhiều hợp chất được sử dụng như chất ổn định được tìm thấy thiên nhiên trong cơ thể, và do đó không gây ra bất kỳ rủi ro nào.

Chất bảo quản

Chất bảo quản được sử dụng để ngăn ngừa nhiễm vi khuẩn và nấm của vắc-xin sau khi sản xuất. Điều này đặc biệt quan yếu đối với các loại vắc-xin “đa liều”, trong đó nhiều liều tiêm được rút ra từ cùng một bình cao su.

Thiomersal hợp chất chứa thủy ngân thường được dùng như một chất bảo quản trong các vắc-xin đa liều này. Nó cũng có thể là thành phần vắc-xin bền chí bởi có nhiều tranh cãi nhất (không được điều chỉnh).

Vào năm 1998, bác sĩ lừng danh Andrew Wakefield đã xuất bản một bài báo nhằm kết liên các vắc-xin MMR thời thơ dại (đối với bệnh sởi, quai bị và rubella) với chừng độ tự kỷ tăng dần ở trẻ con. Việc công bố nghiên cứu này đã dẫn đến giảm tỷ lệ tiêm chủng ngừa ở trẻ thơ ở Anh, và gia tăng sự bùng phát của các bệnh có thể ngừa được.

Những gắng ngay để tái hiện nghiên cứu của Wakefield không thành công. Nó cũng nổi lên rằng ông đã làm giả dữ liệu trong nghiên cứu của mình, và thực tiễn đã được một công ty luật thuê và trả tiền cụ thể để tìm chứng cớ cho thấy vắc-xin MMR có hại – một xung đột lợi ích chẳng thể phủ nhận và phi đạo đức. tập san Y khoa Anh, điều tra tờ giấy ăn gian, thấy rằng những đứa trẻ được kiểm tra như là một phần của nghiên cứu của Wakefield, “không có trường hợp nào không được vắng hoặc thay đổi”.

mặc dù vắc-xin MMR không chứa thiomersal, nhiều vắc-xin khác được dùng tại thời điểm đó. Thiomersal đã được loại bỏ khỏi các vắc-xin thời ấu thơ, một phần là kết quả của nghiên cứu hoảng sợ của Wakefield được tạo ra, nhưng tỷ lệ tự kỷ vẫn nối tăng.

Cho đến nay, không có bằng chứng kết liên số lượng thiomersal tìm thấy trong vắc-xin có bất kỳ tác hại nào; trong khi thủy ngân vững chắc là một mối đe dọa đối với sức khỏe con người với số lượng đủ, nồng độ trong máu của thủy ngân sau khi tiêm vắc-xin chứa thiomersal vẫn còn trong mức an toàn được ưng ý.

Các hợp chất khác được sử dụng làm chất bảo quản trong vắc xin bao gồm phenol và phenoxyethanol. Một lần nữa, chừng độ của các hợp chất này có trong các liều vắc-xin không can dự đến bất kỳ tác hại nào.

Thành phần vi lượng

Một số thành phần vi lượng được bỏ lại đằng sau quá trình sản xuất vắc-xin. Nồng độ của các thành phần này trong vắc-xin cuối cùng là rất thấp. Các hợp chất như formaldehyde, một trong những tác nhân có thể được dùng để vô hiệu hóa vi-rút, có thể được phát hiện, nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều so với mức độ gây hại ở người.

Để so sánh, lượng formaldehyde tìm thấy trong các loại vắc-xin này nhỏ hơn 1% số lượng được tìm thấy tự nhiên trong quả lê 200 g. Formaldehyde cũng được tạo ra trong thân chúng ta một cách tự nhiên như là một phần của sự thảo luận chất của chúng ta, một lần nữa với số lượng lớn hơn so với những chất có trong vắc-xin.

Chất pha loãng

Vắc xin cần được pha loãng đến nồng độ cấp thiết của chúng. Thông thường, điều này sẽ được thực hành bằng cách dùng nước diệt trùng hoặc dung dịch nước muối.

Bài viết đến đây là hết rồi. Hy vọng bài viết này đã làm rõ các thành phần khác nhau chứa trong vắc-xin, và mục đích của chúng trong đó. Để biết thêm thông tin, các bạn có thể tham khảo thêm trên internet. Lần sau nếu bạn có dịp dùng chúng có một lời khuyên là: bạn nên tìm hiểu kỹ các thông tin, cũng như nhà cung cấp vắc-xin để tránh tình trạng “tiền mất, tật mang” nhé!

Hóa học đằng sau “mùi người già”

Ai rồi cũng sẽ già và tất nhiên”mùi người già” là một hiện tượng có thật. Thành phần hóa học của các phân tử tạo mùi đổi thay khi chúng ta già đi, cộng với có các yếu tố khác ảnh hưởng đến mùi hương. Dưới đây là một vài nguyên cớ của “mùi người già”, lý do hóa học để đổi thay mùi và mẹo để giảm thiểu mùi hương (nếu bạn muốn).

Trong bài viết trước đây về hóa học về mùi “thơm” của cơ thể, tôi đã biểu đạt khá rõ hóa học đằng sau những mùi này. Bạn có thể tham khảo bài viết tại đây nhé! Tuy nhiên, đó chỉ là những mùi phổ quát của thân thể. Sau đây là một vài nguyên nhân khác gây ra “mùi người già”:

  • Mùi thân thay đổi thiên nhiên khi con người già đi, cộng với có những yếu tố khác góp phần vào “mùi người già”.
  • Nghiên cứu chỉ ra rằng mọi người thường không cảm thấy mùi cơ thể tự nhiên của người cao tuổi là khó chịu.
  • Các nguyên tố khác có thể góp phần gây ra mùi thân thể khó chịu, bao gồm sử dụng thuốc, bệnh tiềm tàng, chế độ ăn uống và sử dụng nước hoa.
  • Mùi thân thể có thể được giảm thiểu bằng cách tăng tần suất tắm và sử dụng chất khử mùi.

Mùi thân thể thay đổi khi chúng ta già đi

Có một số lý do tại sao các viện dưỡng lão có mùi khác với phòng tập thể dục trường trung học:

Hóa học thân thể đổi thay theo thời kì. Mùi hương đặc trưng liên quan đến người cao tuổi là như nhau, không phân biệt sắc tộc hay văn hóa của một người. Các nhà khoa học đã tìm ra những gì đang xảy ra. Khi mọi người già đi, việc sản xuất axit béo trong da tăng lên trong khi sinh sản chất chống oxy hóa giảm. Các axit béo không bão hòa đa hoàn bị oxy hóa, đôi khi làm tăng lượng hóa chất gọi là 2-nonenal.

Nonenal là một aldehyd không bão hòa được biết đến với mùi hương cỏ, béo ngậy. Một số nhà nghiên cứu đã không phát hiện 2-nonenal, nhưng đã tìm thấy mức độ cao hơn của các chất hữu cơ hôi thối như nonanal, dimethylsulfone và benzothiazole trong mùi thân thể của các đối tượng lớn tuổi.

Bệnh tật và thuốc đổi thay mùi của một người. Người già có nhiều khả năng dùng thuốc hơn người trẻ tuổi. Cả tình trạng sức khỏe tiềm ẩn và thuốc có thể ảnh hưởng đến mùi thân thể. tỉ dụ như, việc sử dụng tỏi hoặc hành lá có thể ảnh hưởng đến mùi.

Mùi thân là tác dụng phụ của bupropion hydrochloride (Wellbutrin); leuprolide acetate (Lupron), được sử dụng để hạn chế sinh sản hormone; topiramate (Topamax), được dùng để điều trị động kinh và co giật; và omega-3-acid ethyl ester (Lovaza), được dùng để giảm chừng độ mỡ trong máu. Một số loại thuốc làm tăng tỷ lệ ra mồ hôi, bao gồm cả thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS), thuốc chống trầm cảm và codein sulfate. Các điều kiện y tế ảnh hưởng đến mùi thân bao gồm tiểu đường, cường giáp, bệnh gan, bệnh thận, mãn kinh và thần kinh phân liệt.

Người già có thể tắm và thay áo quần ít liền tù tù hơn. Một người già có thể cần được giúp đỡ khi tắm, sợ ngã trên sàn nhà tắm trơn bóng hoặc cảm thấy đau khi đi vào bồn tắm.

Cảm giác về mùi, giống như các cảm quan khác, suy giảm theo tuổi tác. bởi thế, một người lớn tuổi có thể không tự nhận ra mùi khó chịu hoặc có thể sử dụng một lượng nước hoa hoặc nước hoa có mùi khó chịu.

Vệ sinh răng miệng ảnh hưởng đáng kể đến mùi của một người. Khi chúng ta già đi, miệng tiết ra ít nước miếng, làm giảm khả năng phòng ngự thiên nhiên tốt nhất chống lại hôi miệng. Bệnh nha chu (nướu răng) phổ biến hơn ở người lớn tuổi, cũng góp phần gây ra chứng hôi miệng. Răng giả và cầu răng có thể giữ lại vi khuẩn và nấm, dẫn đến nhiễm trùng và mùi mốc.

Quá trình lão hóa ảnh hưởng đến khả năng cảm nhận sự mất nước của chúng ta. Khi tuyến yên gửi tín hiệu yếu hơn cho quá trình khát, người già có khuynh hướng uống ít nước hơn. Mất nước dẫn đến mồ hôi và nước tiểu có mùi mạnh hơn và có thể khiến da phát triển mùi do sự bong tróc của các tế bào khô.

Người già có thiên hướng có đồ cũ hơn, có tức thị tài sản của họ đã có thời kì để phát triển mùi. Nếu bạn bị bao quanh bởi những đồ vật có mùi cũ, bạn mang theo một số mùi hương của chúng. Điều này quá hiển nhiên đúng không?

tại sao hóa học của cơ thể lại thay đổi?

Có thể là do sự tiến hóa mà mùi đổi thay khi một người già đi. Theo Johan Lundström, một nhà tâm thần học cảm giác tại trọng điểm cảm biến hóa học Monell, con người sử dụng mùi hương để tìm bạn tình, xác định họ hàng và tránh người bệnh. Lundström và nhóm của ông đã thực hành một nghiên cứu cho thấy mọi người có thể xác định tuổi của một người chỉ dựa vào mùi cơ thể.

thí điểm cũng tìm thấy mùi liên can đến tuổi già (tuổi từ 75 đến 95) được coi là ít khó chịu hơn so với những người từ tuổi trung niên và người tiết nhiều mồ hôi. Mùi của ông già được coi là “tốt nhất”. Mùi của nữ giới lớn tuổi (“mùi bà già”) được đánh giá là kém dễ chịu hơn so với nữ giới trẻ.

Một kết luận hợp lý của nghiên cứu này, sẽ là mùi hương của những người đàn ông lớn tuổi hoạt động như một loại lăng xê không lời cho một người bạn trăm năm, được chứng minh là có gen có khả năng sống sót cao. Mùi hương của một người phụ nữ lớn tuổi có thể đánh dấu cô ấy đã sang trọng quá trình sinh nở trong quá vãng. Tuy nhiên, các đối tượng thử nghiệm đã phản ứng trung tính với mùi cơ thể từ tất tật các nhóm tuổi, do đó, những thay đổi sinh hóa tự nhiên không tạo ra mùi thơm khó chịu.

Vậy làm thế nào để hết “mùi người già”?

Hãy nhớ rằng, mùi cơ thể tự nhiên của một người già không được coi là phản cảm! Nếu một người già hôi thối, có lẽ là do một trong những nhân tố góp phần khác.

Tăng cường chú ý đến vệ sinh cá nhân và tăng lượng nước uống là đủ để giải quyết mùi khó chịu ở một cá nhân khỏe mạnh. Tuy nhiên, nếu mùi của một người thực thụ là khó chịu, có thể có một nguyên do y tế tiềm ẩn. Một chuyến đi đến bác sĩ và nha sĩ có thể theo trật tự, cùng với việc xem xét các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến mùi cơ thể.

Có những sản phẩm thực sự được bán trên thị trường đặc biệt để giải quyết “mùi người già”. Ở Nhật Bản, mùi thậm chí còn có tên riêng: Kareishu. Công ty mỹ phẩm Shiseido Group có một dòng nước hoa nhằm mục đích trung hòa nonenal. Mirai Clinicical cung cấp xà phòng và sữa tắm có chứa chiết xuất hoa hồng, có chứa tannin khử mùi tự nhiên. Một cách khác để chống lại các aldehyd có mùi khác và là ngăn chặn quá trình oxy hóa axit béo, bằng cách dùng một loại kem dưỡng, giữ ẩm cho da và bổ sung chất chống oxy hóa.

Trên đây là một lý do cũng như sự đổi thay hóa học của thân khi chúng ta già đi. Đều này làm cho thân có mùi không “thơm” chút nào. ngóng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy bạo dạn giải đáp và nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Thoughtco , Wikipedia , Healthline Livescience .

Hóa học đằng sau hormon thai kỳ

Mang thai là điều khôn xiết thiên liêng của các bà mẹ nói riêng và gia đình nói chung. Trong quá trình này, thân của người mẹ thay đổi rất nhiều từ tâm sinh lý, thể chất… Một trong số đó góp phần quan trọng nhất trong sự hình thành của bào thai là các hormon. Chúng giúp cho sự phát triển của em bé, tuy nhiên không phải lúc nào chúng cũng có tác dụng dễ chịu lắm đâu.

Trong bài viết lần này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hóa học đằng sau hormon thai kỳ cũng như những điều thích thú xung quanh chủ đề này nhé!

Giới thiệu

Sự thăng bằng chuẩn xác của các hormon là cần thiết cho một thai kỳ thành công. Hormone đóng vai trò là cơ quan truyền tin hóa học của thân thể, gửi thông tin và phản hồi lại giữa các mô và cơ quan khác nhau. Hormon di chuyển khắp cơ thể, thường qua máu và gắn vào protein trên các tế bào gọi là thụ thể (receptor) – giống như một chiếc chìa khóa vừa với ổ khóa hoặc tay vừa với căng thẳng.

Để đáp ứng với điều này, mô hoặc cơ quan đích đổi thay chức năng của nó để quá trình mang thai được duy trì. Ban đầu, buồng trứng và sau đó là nhau thai là nhà sản xuất chính các hormone hệ trọng đến thai kỳ, rất cần thiết trong việc tạo và duy trì các điều kiện chuẩn xác cấp thiết để mang thai thành công.

Sau khi thụ thai, một phôi thai mới phải báo hiệu sự hiện diện của nó với người mẹ, cho phép thân thể của bà ấy xác định bắt đầu mang thai. Khi trứng được thụ tinh, nó di chuyển qua đường sinh sản nữ và vào ngày thứ sáu cấy vào tử cung sẽ tiết ra một loại hormone gọi là human chorionic gonadotropin (gọi tắt là hCG) trong quá trình này. Hormone này đi vào tuần hoàn của mẹ và cho phép người mẹ nhận ra phôi thai và bắt đầu thay đổi cơ thể để tương trợ mang thai.

hCG ở người có thể được phát hiện trong nước giải sớm nhất là 7-9 ngày sau khi thụ tinh và được dùng như một chỉ số mang thai trong hầu hết các xét nghiệm mang thai không kê đơn. Nó chịu một phần bổn phận cho việc đi tiểu thẳng tuột của đàn bà mang thai trong ba tháng trước nhất.

Điều này là do mức độ hCG ở người tăng lên khiến cho máu chảy nhiều hơn đến vùng xương chậu và thận, khiến thận loại bỏ chất thải nhanh hơn trước khi mang thai. hCG đi qua máu mẹ đến buồng trứng để điều chỉnh chừng độ của các hormon tiền sản, estrogen và progesteron.

Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về 6 loại hormon thai kỳ quan yếu nhé!

1. hCG

hCG là một hormon quan trọng trong thời đoạn đầu của thai kỳ. Nó được sinh sản bởi nhau thai sau khi cấy ghép, và hỗ trợ chức năng của hoàng thể. Hoàng thể là một cấu trúc lâm thời trong buồng trứng tạo ra các hormon then chốt khác trong thời kỳ đầu mang thai.

hCG cũng là hormon được phát hiện bởi các xét nghiệm mang thai. Nồng độ của nó tăng lên từ lúc thụ thai và đạt đỉnh 8 – 11 tuần. Trong vài ngày đầu sau khi thụ thai, mức độ của nó quá thấp để phát hiện bằng các xét nghiệm mang thai, nhưng sau khi cấy ghép, chừng độ của nó tăng gấp đôi cứ sau 48 giờ. Bạn có thể tìm hiểu thêm bài viết về hóa học đằng sau que thử thai tại đây để biết thêm nhé!

2. Progesterone

Trong những tuần đầu của thai kỳ, hoàng thể sản xuất progesteron. Sau 8-12 tuần, nhau thai tiếp quản.

Progesteron kích thích sự phát triển của các huyết mạch cung cấp niêm mạc tử cung. Nó cũng kích thích lớp lót phóng thích chất dinh dưỡng, cung cấp dinh dưỡng cho phôi sớm. ngoại giả, progesteron ức chế sự co bóp của cơ trơn của tử cung để nó phát triển thành em bé.

Nồng độ progesteron tiếp kiến tăng khi quá trình mang thai diễn ra. Cùng với estrogen, nó thúc đẩy sự phát triển của mô vú và sự phát triển của tuyến sữa. Progesteron ngăn ngừa tiết sữa khi mang thai, chỉ bắt đầu khi mức độ giảm sau khi sinh. Hormon này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho việc sinh nở: nó tăng cường các cơ thành chậu cần thiết cho quá trình chuyển dạ.

Việc nhận thấy sự tăng trưởng tóc khi mang thai? Điều đó cũng do progesteron!

3. Estrogen

Cũng giống như progesteron, hoàng thể sản xuất estrogen trong thời đoạn đầu của thai kỳ trước khi nhau thai tiếp quản. Estrogen đích thực là một nhóm tụ họp các hợp chất tương tự: oestron, oestradiol và oestriol.

Estrogen giúp tử cung phát triển và duy trì lớp lót. Nó tương trợ sự phát triển của thai nhi, bao gồm sự phát triển của các cơ quan và hệ thống thân. Nó cũng kích hoạt và điều chỉnh việc sinh sản các hormon thai kỳ quan trọng khác.

4. Prolactin

Prolactin là hormon chính cần thiết để kích hoạt sinh sản sữa mẹ. Nó mở rộng các tuyến vú để chuẩn bị cho điều này (dù rằng như mức progesteron đã lưu ý trước đó giúp ngăn chặn sự tiết sữa cho đến khi em bé được sinh ra).

Prolactin có các vai trò khác không hệ trọng đến sinh sản sữa. Nó góp phần vào sự phát triển của phổi và não của thai nhi, và cũng là hệ thống miễn nhiễm của mẹ dung nạp cho thai nhi.

5. Relaxin

chừng độ relaxin cao nhất trong ba tháng đầu của thai kỳ, nhưng nó có mặt trong quá trình. Nó có một số vai trò, bao gồm cấm co bóp cơ tử cung để ngăn ngừa sinh non.

Tên relaxin cho thấy một vai trò quan trọng hơn. Nó làm thư giãn các huyết mạch, tăng lưu lượng máu đến nhau thai và thận. Điều này giúp thân thể mẹ ứng phó với nhu cầu oxy và chất dinh dưỡng từ em bé đang phát triển tăng lên.

Relaxin cũng giúp thân mẹ chuẩn bị sinh. Nó làm thư giãn các khớp trong khung chậu và làm mềm và mở mang cổ tử cung để giúp việc sinh đẻ dễ dàng hơn.

6. Oxytocin

Oxytocin chỉ xuất hiện với số lượng đáng kể vào cuối thai kỳ, mặc dầu nó có mặt với số lượng thấp hơn trước đó. mức độ của nó tăng lên khi bắt đầu chuyển dạ, gây ra các cơn co thắt.

Ảnh hưởng phụ của các hormon thai kỳ

Nồng độ progesteron và estrogen cao rất quan yếu cho một thai kỳ khỏe mạnh nhưng thường là nguyên nhân gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn phổ thông ở người mẹ, đặc biệt là khi chúng tác động lên não. Cho đến khi cơ thể mẹ thích nghi với mức độ cao hơn của các hormon này, sự thay đổi tâm cảnh có thể rất phổ quát. Phần lớn phụ nữ sẽ bị ốm nghén – cảm giác buồn nôn, bất cứ lúc nào trong ngày, có thể dẫn đến nôn.

duyên do chính xác của ốm nghén vẫn chưa được biết nhưng có khả năng là do sự gia tăng chóng vánh của: estrogen và progesteron; hCG ; hoặc một loại hormon tuyến giáp có can dự chặt được gọi là hormon kích thích tuyến giáp giảm trong thời kỳ đầu mang thai, mặc dù nó có thể được gây ra bởi sự phối hợp của tất những đổi thay nội tiết tố này. Ốm nghén thường bắt đầu vào khoảng tuần 5-6 của thai kỳ và sẽ giảm dần vào tuần 12-16, mặc dầu một số phụ nữ phải chịu đựng trong thai kỳ.

Nhiều đàn bà cảm thấy đau và khó chịu ở xương chậu và lưng dưới trong ba tháng đầu. Điều này đốn là do một loại hormon gọi là relaxin. Relaxin có thể phát hiện vào tuần 7-10 và được sinh sản trong thai kỳ. Hormon này giúp thư giãn các cơ, khớp và dây chằng của mẹ để nhường chỗ cho em bé đang lớn.

Tác dụng của relaxin tụ tập nhiều nhất ở vùng xương chậu; làm mềm các khớp xương chậu thường có thể dẫn đến đau ở khu vực này. Các khớp mềm hơn cũng có thể làm giảm sự ổn định và một số đàn bà có thể nhận thấy nó khó cân bằng hơn. Ngoài ra còn có sự gia tăng táo bón can hệ đến giảm chuyển động đường ruột vì relaxin và sự phát triển của thai nhi.

dù rằng thỉnh thoảng không thoải mái và bực bõ, vơ những tác dụng phụ này thường sẽ giảm bớt hoặc thậm chí giảm dần vào cuối tuần 12 của thai kỳ.

Trên đây là một đôi điều huých về hormon thai kỳ. trông sẽ giúp ích cho các bạn trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Yourhormones , Compound Interest EVA .

Hóa học của mẹ và con

Chủ đề về mẹ là chủ đề xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Tuy nhiên để nói về hóa học của mẹ và con thì không phải ai cũng hiểu. Nhân ngày của mẹ 12/5, blog sẽ đề cập về chủ đề này như một lời cảm ơn thật tâm của những người con đối với mẹ của mình.

Đôi nét

Trước khi đi vào nội dung chính của bài chúng ta hãy quay về quá vãng một tẹo nhé! Có thể 10 năm, 20 năm hay cả một thế kỷ từ lúc chúng ta chào đời, cất tiếng khóc trước nhất. Vào thời khắc đó thì chúng ta chỉ là những đứa trẻ, cần được chăm sóc và bảo vệ hoàn toàn. May mắn thay, chúng ta được sinh ra với vơ các công cụ cần thiết và hướng dẫn trực tiếp để đạt được sự coi sóc và trở thành một phần yêu thương của gia đình và xã hội.

Các tương tác tâm thần và nội tiết được cung cấp cho bố mẹ và con cái để tương trợ trong quá trình này là một trong những sức mạnh của thiên nhiên. Các dấu hiệu nội tiết tố rõ ràng và bản năng của chúng ta có thể cung cấp bít tất các phản ứng phù hợp. Nếu không cố gắng vô cùng để tránh và bỏ qua những lời giục giã đó, cha mẹ sẽ tự nhiên làm theo lời khuyên của các tế bào thần kinh và hormone, nuôi dưỡng bạn và duy trì sự gần gũi về thể xác.

Khi được sinh ra, các hệ thống kiểm soát nội tiết tố và các khớp thần kinh của bạn bắt đầu tổ chức vĩnh viễn theo các tương tác của con người mà bạn sang. Các thụ thể não không cấp thiết và các con đường thần kinh được xử lý, trong khi những người phù hợp với môi trường nhất định được tăng cường.

Nghe có vè lùng nhùng nhưng bạn sẽ hiểu nhanh thôi với những nội dung sau đây:

Oxytocin: Một hoocmon liên kết

Oxytocin là một sứ giả hóa học được tạo ra trong não đẵn để đáp ứng với xúc tiếp từng lớp, nhưng sự phóng thích của nó đặc biệt rõ rệt với sự xúc tiếp giữa da với da. Ngoài việc cung cấp các lợi ích sức khỏe, chất này giống như hoóc môn thúc đẩy các mô hình kết liên và tạo ra mong muốn xúc tiếp với các cá nhân kích hoạt sự phát hành của nó.

Khi quá trình này không bị đứt quãng, oxytocin là một trong những phương tiện chính của bản chất để tạo ra một người mẹ. Được cung cấp bởi nồng độ estrogen cao (hoóc môn nữ) khi mang thai, số lượng thụ thể oxytocin trong não mẹ mong đợi sẽ nhân lên đáng kể vào cuối thai kỳ. Điều này làm cho người mẹ mới phản ứng cao với sự hiện diện của oxytocin. Những thụ thể này tăng lên trong phần não của bà ấy xúc tiến hành vi của người mẹ.

Đợt tăng oxytocin quan trọng trước nhất là trong quá trình chuyển dạ. Nếu việc sinh mổ là cần thiết, cho phép chuyển dạ xảy ra trước tiên sẽ cung cấp một số sự gia tăng hormone liên kết này (và giúp đảm bảo một đợt kháng thể chung cục cho em bé qua nhau thai). Đi qua kênh sinh sản làm tăng thêm nồng độ oxytocin ở cả mẹ và bé.

Oxytocin cao khiến người mẹ trở thành quen thuộc với mùi độc đáo của trẻ sơ sinh, và một khi bị lôi cuốn bởi nó, thích mùi bé con của chính mình hơn thảy những người khác. Bé cũng hao hao như dấu ấn của mẹ, tạo ra cảm giác tĩnh tâm và giảm đau cùng với mẹ. Khi đứa trẻ được sinh ra, chúng đã in dấu mùi nước ối. Dấu ấn mùi này giúp chúng tìm thấy núm vú mẹ, có mùi rưa rứa nhưng hơi khác. Trong những ngày sau khi sinh, trẻ lọt lòng có thể được yên ủi bởi mùi của chất lỏng này.

Dần dần trong những ngày tiếp theo, bé bắt đầu thích mùi của mẹ, nhưng tiếp in dấu lên mẹ không liên quan đến thực phẩm. Trên thực tế, trẻ lọt lòng bú sữa công thức bị vấn nhiều hơn (trong các thể nghiệm trong phòng thí nghiệm) đối với mùi vú mẹ của mẹ so với sữa công thức, thậm chí hai tuần sau khi sinh.

Bằng cách ảnh hưởng đến hành vi của người mẹ và kích thích sữa, hãy giảm xuống (cho phép sữa chảy) trong khi cho con bú, oxytocin giúp những cầm trước hết khi cho con bú trở nên tự nhiên. vậy săn sóc trong giờ đầu tiên sau khi sinh khiến oxytocin tăng đến mức đặc biệt ở cả mẹ và bé. Các bà mẹ trì hoãn trông nom mất một phần hormone cao rút cục được cung cấp ngay sau khi sinh. Dấu ấn ban đầu mạnh mẽ cho mẹ và bé dự định sẽ xảy ra cốt để mẹ và bé có thể tìm và nhận ra nhau trong những giờ và ngày sau khi sinh.

Tuy nhiên, một cơ hội trọn đời để gắn kết và tình ái không bị mất nếu cửa sổ ban sơ này bị bỏ lỡ. Sau khi sinh, mẹ nối sản xuất nồng độ oxytocin tăng cao do hậu quả của việc nuôi dưỡng và bế trẻ, và mức độ dựa trên lượng xúc tiếp như vậy. Tình trạng nội tiết tố này cung cấp một cảm giác tĩnh tâm và hạnh phúc. Nồng độ oxytocin cao hơn ở những bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ so với những người sử dụng bình sữa bổ sung. Dưới ảnh hưởng ban đầu của oxytocin, các mối nối thần kinh ở một số khu vực khăng khăng trong não của mẹ thực sự sang quá trình tái tổ chức, do đó làm cho các hành vi của mẹ trở thành khó khăn.

Chừng nào còn tiếp xúc với trẻ sơ sinh, oxytocin khiến mẹ phải quan tâm nhiều hơn, phấn chấn hơn để làm chấp nhận người khác, trở nên mẫn cảm hơn với những cảm giác khác của người khác và dễ dàng nhận ra tín hiệu phi ngôn ngữ hơn. tiếp tục coi ngó cũng tăng cường hiệu quả này. Với lượng oxytocin cao, các ưu tiên của người mẹ đã bị thay đổi và não của bà không còn báo hiệu phải chải chuốt và điểm tô cho mình để có được một người bạn trăm năm, và do đó mang thai.

Bây giờ đứa trẻ đã được tạo ra, thói quen chải chuốt của mẹ hướng đến bé. Oxytocin cao ở nữ giới cũng đã được chứng minh là xúc tiến sự chuộng đối với bất cứ điều gì nam giới có mặt trong quá trình tăng vọt của nó. Oxytocin cao kéo dài ở mẹ, cha hoặc em bé cũng thúc đẩy áp huyết thấp hơn và giảm nhịp tim cũng như một số loại sửa chữa động mạch, đích thực làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim suốt đời.

mặc dầu em bé tự tạo ra oxytocin để đáp ứng với việc cho con bú, mẹ cũng chuyển nó cho trẻ sơ sinh bằng sữa. Quy định này phục vụ để thúc đẩy thư giãn liên tục và gần gũi cho cả mẹ và bé. Một sự phóng thích oxytocin đổi thay nhiều hơn được thấy ở trẻ bú bình, nhưng chắc chắn cao hơn ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong vòng tay của cha mẹ thay vì dùng bình sữa.

Sự tiếp xúc thân thể thẳng thớm liên tiếp và các hành động nuôi dưỡng khác của bác mẹ tạo ra mức oxytocin liên tục, tăng cao ở trẻ sơ sinh, từ đó giúp giảm đáng kể các phản ứng hoóc môn bao tay của trẻ sơ sinh. Nhiều nghiên cứu tâm lý đã chứng minh rằng, tùy thuộc vào thực tại của bác mẹ, mức độ oxytocin cao hay thấp sẽ kiểm soát tổ chức vĩnh viễn của phần xử lý găng tay trong não của em bé – thúc đẩy các đặc điểm an toàn ở thanh thiếu niên và người lớn. Các đặc điểm không an toàn như vậy bao gồm hành vi chống đối tầng lớp, khởi hấn, khó hình thành mối liên kết lâu dài với bạn đời, bệnh tâm thần và xử lý bít tất tay kém.

Khi trẻ lọt lòng không được chăm chút đáp ứng sinh sản oxytocin thẳng băng, các phản ứng găng kết quả sẽ làm tăng nồng độ hormone găng cortisol. Tăng cortisol mãn tính ở trẻ sơ sinh và điều chỉnh nội tiết và chức năng đi kèm với nó, được mô tả trong các nghiên cứu sinh hóa có liên quan đến đổi thay não vĩnh viễn dẫn đến phản ứng tăng lên đối với căng thẳng trong cuộc đời, như huyết áp và nhịp tim cao hơn. Các bà mẹ cũng có thể được hưởng lợi từ tác dụng giảm bít tất tay của oxytocin – đàn bà cho con bú sinh sản hormone gây bao tay ít hơn đáng kể so với những người cho con bú bằng sữa bình.

Những người cha cũng không rời khỏi phương trình oxytocin. Nó đã được chứng minh rằng một người cha sống ở mức độ oxytocin gia tăng trong giai đoạn cuối của thai kỳ bạn trăm năm của mình. Khi người cha dành thời kì đáng kể để xúc tiếp với con, oxytocin khuyến khích ông ta dự nhiều hơn vào việc chăm nom liên tục trong một chu kỳ tự kéo dài. Oxytocin ở người cha cũng làm tăng sự quan hoài của ông ta đối với sự xúc tiếp về thân xác (không nhất mực là tình dục) với người mẹ. thiên nhiên hiện cung cấp một cách để người cha trở nên quan hoài hơn khi trở thành một phần tận tụy và hài lòng của bức tranh gia đình chuẩn y sự hệ trọng của ông ấy với em bé.

Với vớ sức mạnh của mình, oxytocin là một trong nhiều danh sách nhiều hóa chất mà thiên nhiên dùng để bảo đảm em bé tìm thấy tình và sự trông nom mà mình cần.

Vasopressin & Bảo vệ

mặc dầu có mặt và hoạt động trong quá trình gắn kết ở mẹ và trẻ lọt lòng, vasopressin đóng vai trò lớn hơn nhiều ở người cha. Hormone này thúc đẩy tái tổ chức não đối với các hành vi của người cha khi đàn ông sống chung với người mẹ mang thai. Người cha trở thành tận tụy hơn với người bạn trăm năm của mình và diễn đạt những hành vi bảo vệ.

phóng thích để đáp ứng với sự gần gũi và xúc giác, vasopressin xúc tiến sự gắn kết giữa người cha và người mẹ, giúp người cha nhận ra và gắn kết với con mình, và khiến ông ta muốn trở thành một phần của gia đình, thay vì một mình. Nó đã đạt được tăm tiếng là hoóc môn một vợ một chồng. Tiến sĩ Theresa Crenshaw, tác giả của cuốn Alchemy of Love and Lust, nói rằng: “Testosterone muốn rình mò, vasopressin muốn ở nhà. lái xe”.

Vasopressin củng cố khuynh hướng bảo vệ được thúc đẩy bởi testosterone can hệ đến người bạn đời và đứa con, nhưng cản ngăn sự hung hăng, khiến ông ta hợp lý hơn và ít cực đoan hơn. Bằng cách thúc đẩy suy nghĩ hợp lý và ít thất thường hơn, hormone này tạo ra vai trò làm cha hợp lý, mang lại sự ổn định cũng như cảnh giác.

Prolactin & Hành vi

Prolactin được giải phóng ở ắt những người khỏe mạnh trong khi ngủ, giúp duy trì cơ quan sản xuất và chức năng miễn dịch. Ở người mẹ, prolactin được giải phóng để đáp ứng với việc bú, thúc đẩy sinh sản sữa cũng như các hành vi của mẹ. Prolactin làm mẹ thư giãn, và trong những tháng đầu, tạo ra một chút mệt mỏi trong một buổi chăm sóc để bà ấy không có thèm muốn mạnh mẽ để nhảy lên và làm những việc khác.

Prolactin xúc tiến các hành vi coi sóc và theo thời kì, chỉ đạo tổ chức lại não để ủng hộ những hành vi này. Nồng độ prolactin của cha bắt đầu tăng lên trong thời kỳ mẹ mang thai, nhưng hầu hết sự gia tăng ở nam giới xảy ra sau nhiều ngày chung sống với trẻ sơ sinh.

Đây là kết quả của việc tái tổ chức não được điều hòa nội tiết tố trong thời kì làm bố mẹ, mô hình giải phóng prolactin bị thay đổi. Nó đã được chứng minh rằng những người cha giải phóng prolactin để ứng phó với các mối đe dọa thâm nhập, trong khi những người đàn ông không có con thì không. Mặt khác, các bà mẹ cho con bú không tiết ra prolactin để đáp ứng với tiếng ồn lớn, trong khi nhưng người không có con lại có. Ở trẻ con và không có bố mẹ, tăng prolactin có can hệ đến chừng độ căng thẳng, bởi vậy nó thường được coi là một hormone căng thẳng. Ở ba má, nó phục vụ như một hormone bác mẹ.

Nồng độ prolactin tăng cao ở cả bà mẹ cho con bú và người cha có liên can gây ra một số sự giảm nồng độ testosterone của họ, do đó làm giảm thèm muốn tình dục của họ. Khả năng sản xuất của họ cũng có thể giảm trong một thời kì. Việc giảm hoạt động dục tình và khả năng sản xuất này hoàn toàn do thiết kế vì ích của trẻ lọt lòng, cho phép sự để ý và năng lượng của cha mẹ dồi dào. Khi người cha có quan hệ khắn khít với trẻ sơ sinh cùng với người mẹ, cần có một sự thỏa thuận giữa mong muốn của hai người, và oxytocin và các hóa chất khác cung cấp cho mối quan hệ gắn bó và quan hoài phi tình dục với nhau, để giữ lại một giây săn sóc tận tâm cho trẻ lọt lòng.

Opioids & Phần thưởng

Opioids (hormone khoái cảm) là các hóa chất giống morphin tự nhiên được tạo ra trong thân chúng ta. Chúng làm giảm nhận thức đau và tạo cảm giác háo hức. Các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là sự đụng chạm – đặc biệt là giữa bố mẹ và con cái – gây ra sự phóng thích opioid, tạo ra cảm giác tốt sẽ tăng cường liên kết. Mùi, vị, hoạt động và thậm chí cả thị hiếu có thể phát triển do kết quả của việc phóng thích opioid trong các lần xúc tiếp dễ chịu, và chung cuộc, cảnh tượng của một người thân yêu mặt kích thích sự dâng trào. Opioid được phát hành trong não trẻ em như một phản ứng có điều kiện đối với những cái ôm và nụ hôn rét mướt của bác mẹ có thể có hiệu quả để giúp giảm đau do ngã hoặc thất vọng.

ba má học hỏi và tận hưởng các hoạt động bổ ích như cho con bú và giữ trẻ, và trẻ sơ sinh học cách học để tận hưởng sự xúc tiếp như được bế, mang và đá, toàn bộ như là một phản ứng với việc phát hành opioid. Em bé cần sữa, và opioids là phần thưởng tự nhiên dành cho chúng để có được nó, đặc biệt là trong những lần thử trước tiên. Một vài tập trước nhất của việc mút tổ chức các con đường thần kinh trong não trẻ lọt lòng, điều hòa cho bà ấy tiếp hoạt động này.

Đây là lý do mà trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đôi khi gặp rối rắm nếu chúng được cho bú bình trong nhà trẻ lọt lòng – việc tiếp xúc sớm với bình sữa tạo ra mối liên tưởng khó hiểu với cả núm vú bình sữa và vú mẹ. Trong thực tại, bất kỳ cảm giác tình cờ nào có được trong quá trình lắc lư, chạm và ăn mà không độc hại có thể trở thành một phần cảm giác của con nít và sẽ mang lại sự thoải mái. Đó có thể là sự rét mướt của thân thể mẹ, bộ ngực lông của cha, bà ru ngủ nhẹ nhàng, một tấm chăn hay mặt gỗ của một chiếc giường cũi.

Sự tăng cao của prolactin ở cha mẹ kèm theo sẽ kích thích hệ thống opioid, nâng cao phần thưởng cho các mối quan hệ gia đình thân mật, yêu, có thể hơn ắt. Cũng giống như với codein và morphin, khả năng dung nạp opioid tự nhiên có thể xảy ra.

Norepinephrine & Học tập

Nuôi con bằng sữa mẹ cũng khiến dopamine và sản phẩm của nó, norepinephrine (adrenaline), được sản xuất, giúp duy trì một số tác động của liên kết sớm. Chúng tăng cường năng lượng và sự tỉnh táo cùng với một số niềm vui của sự gắn bó.

Norepinephrine giúp tổ chức hệ thống kiểm soát găng tay trẻ lọt lòng, cũng như các biện pháp kiểm soát nội tiết quan trọng khác ăn nhập với bản chất của các trải nghiệm nuôi dưỡng sớm. Nó thúc đẩy việc học về môi trường – đặc biệt là học bằng cách ghi nhớ được thực hành bởi oxytocin, opioids và các ảnh hưởng hóa học khác.

Pheromone & Bản năng căn bản

Làm thế nào để thân thể người đàn ông có thể biết để bắt đầu đổi thay nội tiết tố khi ông ta sống với một phụ nữ mang thai? Làm thế nào một đứa trẻ sơ sinh có thể giải thích chuẩn xác về mẹ của mình. Câu đáp là pheromone . Trong số những thứ khác, pheromone là hormone steroid được tạo ra trong da của chúng ta. thân của chúng ta được lập trình theo bản năng để phản ứng hạp khi chúng ta phát hiện ra các pheromone này xung quanh chúng ta.

Trẻ sơ sinh mẫn cảm với pheromone hơn nhiều so với người lớn. Không thể đáp ứng với lời nói hoặc nhiều tín hiệu khác, rõ ràng chúng phụ thuộc vào ý thức nguyên thủy này điều khiển phần nhiều hành vi của động vật bậc thấp. Rất có thể việc in dấu ban đầu của bé lên mùi và pheromone không chỉ là vấn đề thích mùi của bác mẹ, mà là cách tự nhiên kiểm soát tổ chức não và giải phóng hormone để bé thích nghi tốt nhất với môi trường.

Những thời đoạn đầu tiên của bé, hồ hết các trải nghiệm nguyên thủy sau đó được kết liên với các khả năng cao hơn như nhận diện khuôn mặt và cảm xúc. thông qua những điều này, bé rất có thể học cách nhận thức mức độ găng ở những người coi ngó xung quanh mình, chả hạn như khi mẹ đang trải qua nỗi sợ hãi hoặc niềm vui. Một phần của sự khổ đau của trẻ sơ sinh vì sự chia ly có thể do các dấu hiệu của bác mẹ bị mất về sự an toàn của môi trường của bà ấy. hẳn nhiên, cảm giác cơ bản khác mà trẻ sơ sinh phản ứng tốt là xúc giác, và thật trùng hợp, mùi thân thể và pheromone chỉ có thể được cảm nhận khi mọi người ở rất gần nhau.

Đáng buồn thay, trong thế kỷ qua, các bậc bác mẹ đã được các chuyên gia giáo dục ngành giáo dục khuyến khích, bỏ qua mọi bản năng của họ để đáp ứng với những bài học nuôi dạy con mạnh mẽ. Các nhà tâm lý học, nhà tâm thần học và nhà hóa sinh hiện đã xác nhận điều mà nhiều người trong chúng ta nghi theo bản năng: rằng nhiều phần thưởng của việc làm ba má đã bị bỏ lỡ trên đường đi, và các đời trẻ nít có thể đã bỏ lỡ những lợi thế quan yếu suốt đời.

Trên đây là những điều thú vị về hóa học của mẹ và con. ngóng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về vấn đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Linda F. Palmer .

Hóa học của chạy marathon

Còn chưa đầy 24 giờ nữa là giải chạy marathon của Vnexpress 2019 sẽ diễn ra ở Quy Nhơn, Bình Định vào ngày 9/6. Đây được xem như giải được mong đợi nhiều nhất trong năm ở Việt Nam do đường chạy này đã đạt được chứng thực bởi tổ chức quốc tế IAAF/ AIMS (Liên đoàn Điền kinh Thế giới / Hiệp hội Marathon Quốc tế). Điều này đồng nghĩa kết quả tại VnExpress Marathon 2019 có thể được sử dụng để đăng ký các giải chạy lớn tầm cỡ thế giới như Boston Marathon, Chicago Marathon, London Marathon, Tokyo marathon, New York City Marathon và Berlin Marathon.

Vậy điều gì sẽ xảy ra đối với cơ thể khi chạy marathon? Câu đáp này bạn có thể tham khảo trong các sách hướng dẫn về việc chạy cũng như những mẹo xung quanh. Tuy nhiên, khi nói đến hóa học diễn ra trong quá trình chạy thì không phải ai cũng biết. thành thử, trong bài viết bữa nay chủ để của chúng ta sẽ đề cập về chủ đề này nhé!

Lịch sử về marathon

Theo wikipedia thì marathon là một cuộc đua chạy bộ đường trường với chiều dài chính thức là 42,195 km. Sự kiện này được đặt theo một câu chuyện ngụ ngôn về một chiến binh Hy Lạp tên là Pheidippides, một người đưa thư đã chạy từ nơi diễn ra trận chiến Marathon tới thành Athena. Tính chuẩn xác về lịch sử của nhân vật này vẫn còn gây bàn cãi đặc biệt bởi nó trái ngược với bộ sử “Historiai” của nhà sử học Herodotos thời Hy Lạp cổ đại.

Marathon là một trong những sự kiện trước tiên của Olympic hiện đại năm 1896, nhưng đến tận năm 1921 thì chiều dài của cuộc đua mới được tiêu chuẩn hóa. bây giờ có hơn 800 vận cổ vũ marathon tranh tài hàng năm trên khắp thế giới, phần lớn người dự là những vận khích lệ nghiệp dư hoặc những người thường ngày dự với mục đích giải trí. Những cuộc đua marathon lớn hơn có thể có hàng nghìn người tham gia.

Vạch xuất hành

Khi bạn hồi hộp đợi cuộc đua bắt đầu, hormone adrenaline gây bít tất tay sẽ tăng lên và khiến nhịp tim của bạn tăng lên. Bộ não của bạn cũng sẽ gửi tín hiệu đến phổi để tăng nhịp thở.

Khi cuộc đua bắt đầu, tuốt các hệ thống hỗ trợ sinh lý của bạn – hệ thống cơ xương, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, miễn dịch, tâm thần và nội tiết – sẽ ngay thức thì đi vào tình trạng quá tải. Tim của bạn sẽ phải bơm gấp ba đến bốn lần lượng máu xung quanh thân trong một cuộc chạy marathon so với khi bạn ngơi nghỉ. Máu được bơm từ tim của bạn sẽ được phân phối lại xung quanh cơ thể bạn với nhiều cơ bắp hơn và ít hơn đến các cơ quan bao tử và bụng như gan, thận và lá lách.

May mắn thay, cơn sốt adrenalin này là ngắn ngủi, và thân thể ấn từ khuỷu tay này đến khuỷu tay khác ngăn bạn dùng quá nhiều năng lượng cho sự bắt đầu. Giống như một chiếc xe đốt nhiên liệu để chuyển di, thân thể đốt cháy nhiên liệu để chạy. Thí dụ như một người có trọng lượng làng nhàng 70 kg, thì mỗi km chạy, họ sẽ đốt cháy khoảng 100 kilocalo.

Nếubạn duy trì tốc độ ngày nay của mình, thân sẽ có đốt cháy hơn 3.000 kilocalo trong cuộc đua marathon, tương đương với việc mất khoảng 1/2 kg. Điều này thật là ưa đúng không!

Vậy thân lấy năng lượng từ đâu?

Bạn đang chạy thì tất nhiên cơ thể cần tăng lượng oxy để bổ sung. Ngay hiện thời, cơ thể kết hợp oxy này với nhiên liệu để tạo ra năng lượng. Nhiên liệu đến từ ba chất thực phẩm dinh dưỡng chính là protein, chất béo và carbohydrate (chủ yếu là tinh bột và đường).

Protein thường chỉ chiếm 2% đến 5% tổng tiêu năng lượng của thân thể, có nhẽ tăng lên tới 8% trong marathon. Chất béo đóng góp tới 60% năng lượng được tạo ra khi thân thể chúng ta ngơi nghỉ, nhưng khi chúng ta chạy, chỉ có 15% năng lượng mà chúng ta cần đến từ chất béo. cho nên cho vài giờ tiếp theo, thân bạn sẽ nhận được đa số năng lượng của nó từ glucose (C6H12O6), đây là đường đơn được hình thành từ sự phá vỡ carbohydrate.

Nhiên liệu cho người chạy marathon là glucose, chất béo, hoặc cả hai, tùy thuộc về cường độ của một người chạy bộ tốc độ và thời điểm trong cuộc đua.

Trong quá trình hô hấp hiếu khí, glucose phối hợp với oxy tạo thành năng lượng như sau:

C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O + năng lượng

Đối với người chạy bộ, nguồn hiệu quả nhất của glucose là một phân tử lớn gọi là glycogen được lưu trữ trong gan và cơ bắp. Một người trung bình có khoảng 2.000 kilocalo glycogen được lưu trữ, đó là đủ để chạy khoảng 20 km.

Đầu cuộc đua, thân thể bạn đang nhận được nhiều nhất glucose của nó từ glycogen trong cơ bắp. Sau đó, khi glycogen cơ bắp trở thành thấp, nhiều glucose sẽ đến từ glycogen gan.

Để tăng các lượng glycogen của bạn, ba ngày trước cuộc đua, bạn nên ăn rất nhiều carbohydrate chẳng hạn như mì ống, bánh mì và ngũ cốc. Sự phối hợp của chế độ ăn kiêng và luyên tập đã kích thích sinh sản glycogen trong cơ bắp. Khi bạn đang chạy, năng lượng cũng đến từ một quá trình không dùng oxy được gọi là hô hấp kỵ khí, quá trình này phân hủy glucose thành axit lactic (C3H6O3) và năng lượng như sau:

C6H12O6 → 2C3H6O3 + năng lượng

Khi cơ thể bạn đang dần nóng lên, hồ hết năng lượng phát xuất từ quá trình kỵ khí. Nhưng sau đó một vài km, như nhịp tim sẽ tăng và máu nhận được nhiều oxy hơn, quá trình hiếu khí trở thành nguồn cốt của năng lượng . dù rằng vậy, trong ắt cuộc đua, năng lượng của bạn sẽ đến từ cả hai quá trình, trong đó quá trình hiếu khí sẽ ưu tiên hơn.

Trong những km đầu tiện, cơ thể thúc đẩy bạn muốn chạy nhanh hơn và bạn cảm thấy như thể bạn có thể chạy cả ngày với tại tốc độ này. Sau đó, bạn giảm dần để cho phép cơ thể được bình phục. nên chi, một lời khuyên là bạn nên giữ tốc độ ổn định để bảo tàng glycogen dự trữ và đốt cháy chất béo hiệu quả hơn.

Nhiệt và hydrat hóa

Lượng nhiệt do thân tạo ra có thể tăng gấp 30 đến 40 lần trong cuộc đua marathon. Để giữ nhiệt độ thân của bạn trong khoảng từ 36 đến 38 độ C, một số máu sẽ được chuyển từ cơ bắp của bạn sang da, nơi các tuyến mồ hôi sẽ tạo ra hơi ẩm bay hơi vào bầu khí quyển để làm mát thân thể bạn.

Trong ắt quá trình chạy marathon, bạn sẽ mất từ ​​ba đến sáu lít mồ hôi. Mất nước sẽ xảy ra nếu chất lỏng bị mất trong mồ hôi không được thay thế đầy đủ. Tùy thuộc vào điều kiện môi trường, thân thể bạn có thể bị buộc phải lựa chọn giữa việc gửi máu về tim và cơ bắp hoạt động, hoặc vào một hệ thống mao quản bên dưới da hoạt động như một hệ thống làm mát. Dù bằng cách nào, hiệu suất của bạn có thể bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trong trường hợp không có hydrat hóa hiệp, mất nhiệt sẽ bị ngăn trở, lượng máu sẽ giảm và nhịp tim của bạn có thể bắt đầu tăng lên mà không có bất kỳ thay đổi trong cầm hoặc nhịp thở. Mất nước có thể xảy ra nhanh hơn và nguy cơ mệt mỏi sớm và các bệnh hệ trọng đến nhiệt có thể tăng lên, đặc biệt là nếu ngày đua trở thành ấm hơn bất ngờ so với thường nhật hoặc nếu độ ẩm cao.

Đâm đầu vào tường

Trong cuộc đua marathon, cơ thể bạn sẽ sử dụng năng lượng gấp mười lần so với khi hoạt động hàng ngày thường nhật. Năng lượng tăng thêm sẽ đến từ việc đốt cháy phối hợp giữa glucose và chất béo, với glucose là nhiên liệu được chuộng. Tuy nhiên, con người chỉ có thể lưu trữ khoảng 2.000 calo glucose so với 700.000 đến 100.000 calo mà chúng ta có thể lưu trữ dưới dạng chất béo.

Người chạy đốt cháy khoảng 100 calo glucose cho mỗi km của cuộc đua marathon. Điều đó có tức là bạn sẽ đốt cháy tất thảy nguồn cung glucose sau 32 km và sẽ bắt đầu phụ thuộc hồ hết vào chất béo làm nhiên liệu.

vày chất béo cung cấp ít năng lượng trên mỗi đơn vị thời gian hơn glucose, bạn sẽ phải chậm lại. Đó là khi bạn có nguy cơ đâm vào “bức tường của người chạy bộ” khét tiếng. Đôi khi mức đường huyết có thể giảm xuống mức rất thấp dẫn đến một tình trạng gọi là hạ đường huyết. Uống đồ uống thể thao hoặc gel có đường trong cuộc đua có thể giúp duy trì mức đường huyết thường nhật.

Bổ sung carbohydrate

Tại bất kỳ thời điểm nào của cuộc đua marathon, bạn đang dùng cả glucose và chất béo làm nhiên liệu. Khi bắt đầu cuộc đua marathon, khoảng 75% nhiên liệu của bạn là do chuyển hóa glucose và 25% là do chất béo. Khi cuộc đua tiến triển, tỷ lệ này đảo ngược.

Đến khoảng 20 km, bạn cảm thấy như thể không còn glycogen trong thân. Trên thực tiễn, glycogen không bao giờ thực sự hết nó chỉ giảm xuống mà thôi. Điều cần lúc này là bạn nên ghé những trạm hỗ trợ trên đường, và nó là điều độc nhất vô nhị giúp bạn đấu cuôc đua.

Một khi dự trữ glycogen rất thấp, cơ thể sẽ dựa vào thứ tốt nhất tiếp theo để đốt cháy năng lượng chất béo. Thoạt nhìn, có vẻ như chất béo là nguồn năng lượng tốt hơn nhiều: Nó cung cấp 9 kilocalo mỗi gram, trong khi carbohydrate cung cấp 4 kilocalo mỗi gram. Nhưng cơ thể thích chất béo của nó và không sẵn sàng để tự nó rất dễ dàng.

vì sao có nhiều người lại gặp sự cố trong giai đoạn này? Các lý do là Mặc dù một lượng chất béo nhất định tạo ra năng lượng nhiều gấp đôi cùng một lượng glucose, để phá vỡ mỗi phân tử chất béo đòi hỏi bốn lần như nhiều phân tử oxy hơn để phá vỡ từng phân tử glucose. bởi vậy, thân chỉ đơn giản là có thể lấy oxy và chuyên chở nhanh đủ để chuyển đổi đủ chất béo thành năng lượng.

40.000 bước

Bạn sẽ mất khoảng 40.000 bước trong cuộc đua marathon. Mỗi lần chân bạn chạm đất, một lực tác động lớn được tạo ra sẽ gây thêm găng cho cơ và khớp của bạn. Kết quả là, bạn có thể bắt đầu cảm thấy đau ở đùi và bắp chân ở một số tuổi trong cuộc đua marathon. Một số vận cổ vũ cũng bị đau ở cẳng tay, vai và lưng trên. Đừng lo âu! Đau nhức cơ bắp là hoàn toàn bình thường trong và đặc biệt sau một cuộc chạy marathon, và đau nhức thường biến mất trong vòng một tuần. có nhẽ bạn cũng sẽ bị đau khớp khi bạn ngừng chạy.

Đích đến

Sau khi hoàn tất cuộc đua marathon, hệ thống miễn dịch của bạn có thể bị tổn hại trong vài tháng sau khi chạy marathon và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ở một số vận động viên, chức năng tim có thể bị suy yếu trong một thời kì sau khi hoàn thành cuộc đua marathon. Những đổi thay trong chức năng tim có thiên hướng xảy ra ở những người chạy nghiệp dư liền tù tù hơn so với những vận cổ vũ được đào tạo.

Lưu lượng máu đến thận của bạn sẽ giảm trong cuộc đua marathon và có thể làm suy giảm chức năng thận trong tối đa hai tuần. Tổn thương thận sẽ được phối hợp bởi mất nước và tăng nhiệt độ thân thể cốt lõi.

Nhưng cho dù bạn nhìn nó như thế nào, chạy marathon là một thành quả to lớn. Vượt qua vạch đích là một cảm giác siêu thực mà rất ít người trải đời nghiệm. Những cơn đau nhức mà bạn trải qua trong và sau cuộc đua mau chóng lắng xuống và bạn sẽ được để lại một cảm giác thỏa mãn tiệt.

Trên đây là những điều thú vị về hóa học của chạy marathon. cầu mong sẽ giúp ích phần nào cho các bạn trong ngày mai. Lần sau nếu ai có hỏi về chúng thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Brian Rohrig , Niall Moyna , A C Ames VnExpress .

Hóa học đằng sau sự tức giận

Bạn đã bao giờ phát điên đến mức bạn cảm thấy đầu nóng, máu sôi, lòng bàn tay đổ mồ hôi? Tôi chắc rằng mọi người sẽ qua tất cả những điều này trong khi tức giận. Tức giận là một điều đích thực rất thích nếu bạn nghĩ về nó. Có rất nhiều hóa học khi bạn tức giận. bởi thế trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hóa học đằng sau sự tức giận nhé!

đầu tiên chúng ta hãy biết về những gì đích thực là sự tức giận.

Tức giận là một phản ứng xúc cảm thiên nhiên và hầu hết thời gian là phản ứng tự động đối với một hoặc một dạng đớn đau khác như nỗi đau về cảm xúc hoặc thể xác.

William DeFoore, một chuyên gia về quản lý tức giận đã phân vua sự tức giận như một nồi áp suất; người ta có thể gây sức ép chống lại sự tức giận chỉ trong một khoảng thời kì nhất thiết cho đến khi nó bùng nổ.

Diễn biến của sự tức giận

  • Phản ứng vật lý: được gọi là phản ứng Flight to flight hay phản ứng căng thẳng cấp tính (theo wikipedia thì đây là một phản ứng sinh lý xảy ra để đáp ứng với một sự kiện có hại, tiến công hoặc đe dọa đến sự sống). Bạn thể hiện cảm giác của mình bằng cách đổ mồ hôi, giãn tiểu đồng và tăng áp huyết.

  • Trải nghiệm nhận thức: là khi bạn đang nghĩ rằng những gì đang xảy ra với bạn là không công bằng hoặc sai.

  • Hành vi: là cách bạn tả sự tức giận của bạn. Bạn có thể diễn tả sự tức giận của mình theo cách lành mạnh hoặc không lành mạnh.

Hóa học đằng sau

Epinephrine và non-epinephrine là các hóa chất chính đóng vai trò quan yếu trong hóa học đằng sau sự tức giận. Khi không có các hóa chất này, thân sẽ chẳng thể đưa ra bất kỳ phản ứng nào trong khi bạn đang tức giận hoặc trong bất kỳ cảm xúc nào khác có can hệ đến adrenaline.

Epinephrine còn được gọi là adrenaline là một hợp chất hóa học có công thức (HO)2C6H3CH(OH)CH2NHCH3 và được phóng thích trong khi trở nên tức giận. Epinephrine là một trong những hóa chất được phóng thích bởi tuyến thượng thận khi một cá nhân chủ nghĩa trải qua sự tức giận hoặc bất kỳ hình thức căng thẳng nào khác.

Epinephrine cho phép amygdala gửi tín hiệu đến thùy não trước, sau đó cho phép dẫn truyền tâm thần làm tăng nhịp tim của bạn và hiển thị các dấu hiệu khác về việc bạn trở nên tức giận.

Non-epinephrine còn được gọi là adrenaline là một hợp chất hóa học có công thức (HO)2C6H3CH(OH)CH2NH2. Đây là hóa chất theo dõi nhịp tim và huyết áp của bạn. Giảm lượng non-epinephrine nói chung là đặc điểm của người trầm cảm.

Hóa chất này chịu nghĩa vụ cho các quyết định của bạn liên quan đến việc xử lý cảnh huống theo cách tích cực hoặc tiêu cực. Non-epinephrine cung cấp cho một sức mạnh cá nhân và động lực để tự bảo vệ mình trong các tình huống cực kỳ nghiêm trọng.

Quản lý sự tức giận

Sự tức giận có thể có sức tàn phá kỳ lạ nếu chúng ta không biết cách giải quyết nó. Thói quen bùng nổ hay bộc phá liền có hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống lành mạnh, các mối quan hệ và dạng tâm trí của bạn. Nhưng tin sạch là việc kiểm soát cơn giận dễ dàng hơn nhiều so với những gì bạn nghĩ. Quản lý tức giận có thể được biểu thị là các kỹ năng người ta cần nhận ra và hành động để kiểm soát và ngăn chặn sự tức giận.

Bạn đã sẵn sàng để có được sự tức giận theo nếp của bạn dưới sự kiểm soát? Sau đó, bắt đầu bằng cách coi xét 5 mẹo quản lý tức giận sau đây:

1. Nghĩ trước khi nói:

Đừng nói bất cứ điều gì trong thời khắc nóng mà sau này bạn sẽ ân hận. Trước khi nói bất cứ điều gì hãy đợi một thời kì, thu thập nghĩ suy của bạn và để đứa ở phía bên kia cũng làm điều rưa rứa.

2. Nghe hiệu quả:

Tình hình trở thành bực bội trong sự hiện diện của thông tin lệch lạc. Sẽ dễ dàng hơn để tìm một giải pháp mà không có sự can hệ của sự tức giận nếu bạn lắng nghe một cách tốt hơn với những gì ai đó đang nói.

3. Học cách để hạ nhiệt:

  • Hít thở sâu: Hít thở sâu lấy càng nhiều không khí trong lành càng tốt. Thư giãn bằng cách đi dạo, nghe nhạc yêu thích hoặc làm những gì bạn yêu thích nhất.
  • Tập thể dục và khỏe mạnh: Tập thể dục thẳng tắp và thích hợp có thể giúp bạn thư giãn trong các cảnh huống găng tay. Ngủ đủ giấc và thực hành chế độ ăn uống lành mạnh để cảm thấy thư giãn hơn.
  • Xoa bóp các khu vực bao tay của bạn: nếu vai của bạn bị căng, hãy nhẹ nhàng xoa bóp vùng cổ, đầu và da đầu của bạn.

4. Đừng giữ ác cảm với bất kỳ ai:

lượng thứ là một trong những dụng cụ mạnh mẽ mà một cá nhân chủ nghĩa có thể thích nghi để hạnh phúc. Để bảo đảm mối quan hệ lâu dài lành mạnh, bạn cần dung tha và quên đi. Hãy thế thực tại trong tự nhiên và bằng lòng thực tiễn rằng mọi người theo cách của họ, mọi người đều khác nhau.

ráng tìm ra sự hí hước từ sự tức giận của bạn, dùng sự đồng cảm, xây dựng niềm tin và nạm nhận thức được các dấu hiệu và nguyên tố đằng sau sự tức giận của bạn như đau đầu, tim đập thình thịch, v.v.

5. Quản lý tức giận bằng thuốc

Vì tức giận là một mối quan hoài tâm lý, điều trị bằng thuốc là có thể. Mục đích chính của thuốc là để bổ sung cho việc chữa lành và không làm phức tạp quá trình chữa bệnh của bạn. Bạn cần kê đơn cho thầy thuốc về các vấn đề tức giận của bạn và về các loại thuốc.

Thuốc chống trầm cảm như Prozac, Celexa và Zoloft thường được kê đơn cho các vấn đề liên can đến sự tức giận. Những loại thuốc này đặc biệt không nhắm vào sự tức giận trong thân thể, nhưng chúng cũng có kết quả làm dịu có thể tương trợ kiểm soát cơn thịnh nộ và cảm giác tiêu cực.

Trên đây là những điều thích thú của hóa học đằng sau sự tức giận. nhìn nhận sẽ giúp cho các bạn phần nào trong ngày mai, đặc biệt trong sự kiểm soát cảm xúc tức giận của chính mình. Lần sau nếu có ai hỏi về sự tức giận thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Chemistryislife , Worldofchemicals , Sciencelass Inform .

Hóa học của dị ứng

Thời tiết mấy ngày nay ở nơi tôi sống gần đây chẳng dễ chịu chút nào. Thời tiết thì u ám, nhiều mây, mù sương vào sáng sớm. Độ ẩm thì cao dẫn đến mũi của tôi cứ khụt khịt mãi chẳng dễ chịu chút nào. Nếu bạn cũng có những triệu chứng giống như tôi thì chắc hẳn bạn đang bị viêm mũi dị ứng. Đây chỉ là một loại bệnh thường gây ra bởi thời tiết đổi thay, khói bụi do ô nhiễm môi trường bên ngoài và các tác nhân gây dị ứng từ môi trường bên trong như các loại bọ hoặc bụi bẩn trong sinh hoạt… ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sinh hoạt của hơn 150 triệu người trên toàn thế giới.

bởi vậy trong bài viết lần này, blog sẽ đề cập về hóa học của dị ứng để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về loại bệnh này, cũng như những điều thích xung quanh chủ đề này nhé!

Giới thiệu

Vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu là một trong những chủ đề được quan tâm hàng đầu trên toàn cầu. Tại Việt Nam , tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu luôn ở mức báo động. Theo mỏng chất lượng môi trường EPI 2016 (Đại học Yale, Mỹ), Việt Nam xếp thứ 170/180 nhà nước và vùng lãnh thổ về chất lượng môi trường và cũng là một trong 6 quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu. Trong đó, trên 87% dân số mắc phải các triệu chứng viêm mũi dị ứng, chỉ riêng tại TP.HCM, có khoảng 1.5 triệu người bị viêm mũi dị ứng kinh niên.

Vậy thì dị ứng là gì?

Để giải đáp cho câu hỏi chuẩn xác dị ứng là gì, thật sự không rõ ràng. Những gì được biết cho đến thời điểm hiện tại, là cơ thể của một số người phản ứng thái quá với sự hiện diện của một số chất. Những chất này không tạo ra ảnh hưởng xấu ở hồ hết mọi người. thân thể con người có thể vượt qua những tác động này bằng cách sinh sản kháng thể. Chúng là những protein có cấu trúc phức tạp được gọi là globulin .

Có ba loại căn bản của globulin là alpha, beta và gamma. hầu hết các phân tử kháng thể là gamma globulin. Vì mối quan hệ của chúng với hệ thống miễn dịch, chúng còn được gọi là immunoglobulin và được ký hiệu là Ig. Có năm loại globulin miễn nhiễm khác nhau là: IgA, IgD, IgE, IgG và IgM. Trong đó, hệ trọng đến phản ứng dị ứng chính yếu thuộc loại IgE.

Những chất kích thích sinh sản kháng thể là gọi là kháng nguyên . Kháng nguyên thường là protein hoặc phức hợp giữa cấu trúc protein và carbohydrate. Khi bạn có phản ứng dị ứng, những kháng nguyên này là một phần nhỏ của chất đó đã thâm nhập vào thân thể và gây ra các phản ứng. tỉ dụ như chúng có thể bao gồm bụi, phấn hoa và nọc độc của côn trùng.

Sau đó, các tế bào trong thân thể phân tách kháng nguyên này và chuyển thông tin về chúng cho các tế bào khác tạo ra các kháng thể. Những kháng thể này tấn công một kháng nguyên cụ thể và có ít hoặc không có tác dụng với các kháng nguyên khác. Các kháng thể vẫn còn trong máu sau khi loại bỏ kháng nguyên. Các kháng thể IgE chịu nghĩa vụ chính cho nhiều phản ứng dị ứng phổ biến nhất như như sốt cỏ khô, hen suyễn, sốc phản vệ, nổi mề đay và chàm.

Không ai được sinh ra với kháng thể IgE trong thân thể của họ. Khi lần trước nhất tiếp xúc với chất gây dị ứng, phải mất khoảng 10 ngày trước khi IgE phát triển. Đến lúc này chất gây dị ứng đã biến mất nên không có phản ứng dị ứng xảy ra. xúc tiếp lần thứ hai hoặc muộn hơn với chất gây dị ứng thì cố nhiên sẽ gây ra phản ứng dị ứng. Tuy nhiên cần phải mất nhiều lần tiếp xúc thì dị ứng mới xuất hiện.

Vai trò của IgE

IgE không phải là một cấu trúc protein đơn (phân tử) mà là một lớp phân tử. mỗi loại lại có cấu trúc hơi khác nhau. Mỗi phân tử phản ứng với một kháng nguyên cụ thể. Đây là lý do tại sao mọi người lại có những triệu chứng dị ứng biệt lập.

IgE hiện diện trong cơ thể với số lượng cực nhỏ, khoảng 1 phần triệu trong huyết tương. Người bị phản ứng dị ứng có nhiều IgE hơn thường nhật. Ví dụ, một người mắc bệnh hen dị ứng có lượng IgE cao gấp sáu lần so với một người mắc bệnh hen suyễn không dị ứng và những người bị sốt cỏ khô có IgE cao gấp 14 lần so với người không dị ứng.

Đuôi của một phân tử IgE (có hình chữ Y) gắn vào các tế bào khăng khăng trong thân thể được gọi là tế bào mast (hay còn gọi là dưỡng bào). Một tế bào mast đơn có thể liên kết hơn 100.000 phân tử IgE. Trong tế bào mast là các hạt chứa hóa chất được xem là mediator (chất trung gian). Khi một chất gây dị ứng kết hợp với phân tử IgE trên tế bào mast, các chất trung gian được phóng thích.

Mặc dầu nhiều hóa chất khác nhau có mặt như là chất trung gian, nhưng chỉ có hai trong số chúng nghe đâu đóng vai trò trong dị ứng của con người. Đó là histamine và chất phản ứng chậm (gọi tắt là SRA-A). Trong đó, histamine là hóa chất chịu trách nhiệm cho phản ứng chúng ta thường gặp, can dự đến dị ứng như ngứa, sưng, và sổ mũi.

Những loại dị ứng căn bản

Có bốn cách để chất gây dị ứng giật cơ thể chúng ta. Đó là (a) hít, (b) ăn, (c) chạm và (d) tiêm. Một khi các chất gây dị ứng hiện diện trong thân thể, có hai loại dị ứng khác nhau phản ứng. Chúng được phân loại là tức thời hoặc bị trì hoãn, tùy thuộc vào thời kì cấp thiết phản ứng dị ứng xuất hiện.

Một phản ứng tức thì là một trong đó các triệu chứng xuất hiện trong vòng vài phút sau tiếp xúc với chất gây dị ứng. Trong khi đó, một phản ứng chậm trễ mất chí ít bốn giờ hoặc thỉnh thoảng thậm chí vài ngày sau khi xúc tiếp để cho các triệu chứng xuất hiện. Điển hình của phản ứng chậm là dị ứng xúc tiếp như nước hoa trong xà phòng, cây thường xuân độc và từ chối nội tạng.

Có các cơ chế khác nhau đang hoạt động trong hai loại phản ứng dị ứng. Cơ chế được tả ở trên ứng dụng cho phản ứng dị ứng ngay thức thì. Tuy nhiên, trong các phản ứng chậm trễ, không kháng thể được tìm thấy trong máu; thay vì phản ứng chậm trễ qua trung gian của các tế bào. Nhiều phản ứng chậm trễ can dự đến các loại miễn nhiễm khác. IgG có liên quan đến yếu tố Rh , điều này can hệ đến trẻ lọt lòng và viêm phổi dị ứng. IgA và IgM có hệ trọng đến các phản ứng dị ứng liên quan đến mạch máu và thận. Cả IgA và IgE có hệ trọng đến dị ứng thực phẩm thường xảy ra ở người người thiếu IgA. IgA ngăn chặn dị ứng thực phẩm bằng cách phối hợp với dị ứng can hệ đến những dị ứng này.

mặc dầu người ta thường cho rằng một số loại phản ứng dị ứng có thể được kích hoạt bởi găng và phản ứng xúc cảm, điều này là không đúng sự thực. căng thẳng và xúc cảm có thể làm tăng thêm một phản ứng, đặc biệt là trong hen phế quản và sốt cỏ khô nhưng chúng chẳng thể bắt đầu một phản ứng. Tuy nhiên, có một mối tương quan giữa di truyền và dị ứng. Nếu một trong ba mẹ bạn bị dị ứng,thì bạn sẽ có cơ hội bị dị ứng hơn. Nếu cả ba má bạn đều bị dị ứng thì thời cơ bạn bị dị ứng là khoảng 80%, mặc dầu nó có thể không một mực là dị ứng giống như cha mẹ bạn.

Vai trò của histamine

Histamine , được hình thành bởi sự cố của một axit amin phổ thông được gọi là histidine, được tìm thấy ở nồng độ cao trong các hạt trong các tế bào mast, và phóng thích khi các hạt di chuyển đến các cạnh bên ngoài của tế bào mast. Chúng thải ra histamine ưng chuẩn một lỗ hổng tạm trong màng tế bào.

Trong các phản ứng lập tức, histamine có thể chiếm nhiều, nếu không phải toàn bộ, các triệu chứng can hệ đến một phản ứng dị ứng. Histamine gây ra sự giãn nở của các mạch máu và làm tăng khả năng chất lỏng trong máu rò rỉ ra khỏi mao mạch. Những chất lỏng này chịu nghĩa vụ cho sưng mô. Histamine cũng gây co và sưng các cơ trơn, kích thích sản xuất nước bọt, nước mắt và tiết ra chất nhầy. Nó cũng có thể gây ra sự sụt giảm lớn huyết áp và tạo ra một tình trạng được biết đến như sốc phản vệ, dẫn đến tử vong.

Cách xử lý dị ứng

Ba phương pháp được sử dụng trong điều trị dị ứng: (a) tránh, (b) giải mẫn cảm, và (c) hóa chất (thuốc). Khi một người biết anh ấy / cô ấy dị ứng với nguyên liệu gì, điều trị tốt nhất là tránh gây dị ứng càng nhiều càng tốt. Trong một số trường hợp tuồng như chuyển sang một phần khác của sơn hà có thể trợ giúp, đặc biệt là dị ứng với phấn hoa, nhưng nói chung điều này không hoạt động. Những người bị sốt cỏ khô chuyển di từ một phần của nhà nước có lượng phấn hoa cao đến mức thấp về phấn hoa, thường bị dị ứng với các loại phấn hoa khác nhau tìm thấy trong ngôi nhà mới của họ.

Liệu pháp giải nhạy cảm liên tưởng đến tiêm một lượng chất gây dị ứng càng ngày càng tăng nếu người có nồng độ IgE cao. Các thuật ngữ đương đại cho giải nhạy cảm là quá mẫn cảm, có tức là giảm độ nhạy. Một lượng nhò chất gây dị ứng được tiêm trong một khoảng thời gian trong tuần. Tuy nhiên, hiệu quả không rõ ràng cho đến sáu hoặc mười hai tháng điều trị. Tiêm được thực hiện trong phòng mạch của thầy thuốc vì khả năng phản ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ) với chích thuốc.

Có vẻ lạ khi tiêm một người với cùng một chất gây dị ứng gây ra vấn đề, nhưng quy trình có vẻ hiệu quả tăng lượng kháng thể IgG trong thân hình. Những kháng thể ngăn chặn sự phối hợp của chất gây dị ứng với IgE, ngăn chặn sự phóng thích của các trung gian hóa học. Liệu pháp này là đặc biệt có ích cho dị ứng với ong, hornet, và ong bắp cày, và có hiệu quả đối với dị ứng phấn hoa.

Sau đây là cách xử lý hóa học liên hệ đến ba nhóm thuốc khác nhau: Epinephrine (adrenaline), steroid và thuốc kháng histamine,

  • Thuốc kháng histamine

Thuốc kháng histamine có lẽ là tốt nhất được biết đến và phân phối rộng rãi nhất trong các hóa chất được dùng để làm giảm triệu chứng dị ứng. Hơn 50 loại thuốc kháng histamine khác nhau có sẵn ở trên thế giới, thường kết hợp với thuốc thông mũi hoặc thuốc giảm đau trong thuốc ho.

Thuốc kháng histamine không chữa dị ứng. Chúng làm việc bằng cách cạnh tranh với histamine cho các vị trí trên các tế bào. Bằng cách ngăn chặn histamine từ những vị trí này, chúng ngăn ngừa sưng, ngứa và các triệu chứng khác can hệ đến phản ứng của histamine với các tế bào. Các histamine sớm có thể đi qua màng não và gây buồn ngủ, dẫn đến việc dùng chúng như thuốc ngủ. Hai trong số các thuốc kháng histamine mới hơn, astemizole và terfenadine, không thể vượt qua rào cản này, và do đó không gây buồn ngủ. Các tác dụng phụ nghiêm trọng khác gần đây đã được kết liên với những thuốc kháng histamine này.

Có rất nhiều lý do thuốc kháng histamine ảnh hưởng đến những người khác nhau theo những cách khác nhau. Chỉ bằng cách làm việc với bác sĩ của bạn, bạn có thể xác định đâu là cách tốt nhất cho bạn để thực hành.

  • Epinephrine

Epinephrine (adrenaline) là loại thuốc mạnh đầu tiên được bán để điều trị dị ứng. Nó làm giảm các cơ trong phế quản và do đó có hiệu quả trong hen phế quản. Khi mọi người đang vội vã đến bệnh viện với một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, epinephrine được tiêm. Điều này đã cứu mạng nhiều người đã bị sốc phản vệ do phản ứng với chất gây dị ứng. Epinephrine được biết đến như một loại thuốc giao cảm, vì nó kích thích hệ thống tâm thần giao cảm cùng với việc làm giãn cơ trơn.

Nhiều hợp chất khác cũng được sử dụng như hóa chất giao cảm: được biết đến nhiều hơn là noradrenaline (norepinephrine), ephedrine và isoproterenol. Các xanthine và theophylline là rưa rứa nhau. Theophylline thường được sử dụng trong thuốc dạng hít như một chất làm giãn phế quản. Nó cũng được dùng để xác định dung tích phổi. Một số bệnh nhân bị vấn đề phế quản cảm thấy họ có thể thở tốt hơn sau khi uống một cốc cà phê. Điều này xảy ra vì theophylline là một trong hàng trăm hóa chất được tìm thấy trong mùi hương cà phê.

  • Steroids

Các adrenocorticoid ( corticosteroids ) cũng rất quan trọng trong điều trị dị ứng. Một số loại thuốc steroid phổ thông hơn được dùng là hydrocortison, prednison, betamethasone, triamcinolone, và fluocinolone. Chúng giúp giảm đỏ, sưng và ngứa liên can đến phản ứng dị ứng và đặc biệt hữu ích cho hen phế quản, nổi mề đay, rối loạn mắt, và bệnh chàm. Steroid làm giảm sưng và tích chất lỏng can dự đến các phản ứng dị ứng, cho nên chúng có thể được dùng trong các trường hợp nặng của hen suyễn phế quản.

Trên đây là những thông tin căn bản về hóa học của dị ứng. nhóng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào. Lần sau nếu có ai hỏi về vấn đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Henry Daley , Ahmed Elshemy , C&EN Jessica Griswold .

Hóa học về cấu trúc của DNA

DNA là gì? Và tại sao chúng lại quan trọng đối với chúng ta? Chắc có nhẽ ai trong số các bạn đang đọc bài viết này đều đã được học và biết từ năm cấp 2 rồi đúng không nào? hẳn nhiên, không chỉ ở người mà DNA được tìm thấy trong các tế bào của mọi dạng sống đa bào trên địa cầu. Tuy nhiên để hiểu rõ về hóa học của nó thì không phải ai cũng hiểu. Bài viết này sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc của DNA và cách chúng cho phép tạo ra protein nhé!

Đôi nét về lịch sử

DNA được tìm thấy trong nhân của các tế bào ở các sinh vật đa bào, và lần trước nhất được phân lập vào năm 1869, bởi thầy thuốc người Thụy Sĩ Friedrich Miescher. Tuy nhiên, cấu trúc của nó đã không được làm sáng tỏ cho đến gần một thế kỷ sau đó, vào năm 1953. Các tác giả của bài báo mà cấu trúc này được đề xuất là James Watson & Francis Crick, và đã giành giải thưởng Nobel cho công trình của họ. Tuy nhiên, công trình này phụ thuộc rất nhiều vào công việc của một nhà khoa học khác, Rosalind Franklin.

Bản thân Franklin cũng đang nghiên cứu cấu trúc của DNA và từ bức ảnh chụp X-quang của bà ấy, cho thấy rõ cấu trúc xoắn kép của DNA, hỗ trợ rất nhiều cho công việc của họ. Cô vẫn chưa công bố phát hiện của mình khi Watson và Crick có được quyền truy cập vào chúng mà không biết. Tuy nhiên, việc cô không giành được giải thưởng Nobel không phải là một trường hợp sơ sẩy, mà chỉ là hậu quả từ chính sách của ủy ban Nobel rằng các giải thưởng không thể được trao tặng sau đó.

Cấu trúc của DNA

Mô hình xoắn kép của DNA (axit deoxyribonucleic) bao gồm hai sợi đan xen. Các chuỗi này được tạo thành từ các nucleotide, bản thân chúng bao gồm ba thành phần: một nhóm đường, một nhóm phốt phát và một bazơ. Các nhóm đường và phốt phát kết hợp tạo thành “xương sống” lặp lại của các chuỗi DNA. Có bốn bazơ khác nhau có khả năng gắn vào nhóm đường: adenine, thymine, guanine và cytosine, được chỉ định A, T, G và C.

Các bazơ là những gì cho phép hai chuỗi DNA giữ lại với nhau. Các lực liên phân tử mạnh gọi là liên kết hydro giữa các bazơ trên các dải liền kề chịu trách nhiệm cho việc này. Do cấu trúc của các bazơ khác nhau, adenine (A) luôn tạo liên kết hydro với thymine (T), trong khi guanine (G) luôn tạo kết liên hydro với cytosine (C). Trong DNA của con người, trung bình có 150 triệu cặp bazơ trong một phân tử.

Khả năng tự sao chép

Các tế bào trong thân thể bạn liên tiếp phân chia, tái tạo và chết, nhưng để quá trình này xảy ra, DNA trong tế bào phải có khả năng tự sao chép. Trong quá trình phân chia tế bào, hai chuỗi DNA tách ra và hai chuỗi đơn sau đó có thể được sử dụng làm mẫu để tạo phiên bản mới theo nguyên tắc bổ sung. Vì A luôn ghép với T và G luôn ghép với C, nên có thể tạo ra chuỗi các bazơ trên một chuỗi bằng cách sử dụng chuỗi ngược lại và điều này cho phép DNA tự sao chép. Quá trình này được thực hành bởi một họ enzyme gọi là DNA polymerase.

Sản xuất protein

Khi DNA được sử dụng để tạo protein, hai sợi cũng phải tách ra. Tuy nhiên, trong trường hợp này, mã của DNA được sao chép sang mRNA (axit ribonucleic messenger), một quá trình được gọi là “phiên mã”. Cấu trúc của RNA rất giống với cấu trúc của DNA, nhưng với một vài điểm khác biệt chính. trước tiên, nó chứa một nhóm đường khác nhau trong xương sống đường phốt phát của phân tử: ribose thay vì deoxyribose. Thứ hai, nó vẫn sử dụng các bazơ A, G và C, nhưng thay vì bazơ T, nó dùng uracil, U. Cấu trúc của uracil rất giống với thymine, trong đó không có nhóm methyl (CH 3 ) là độc nhất vô nhị sự dị biệt.

Khi các nucleotide của DNA đã được sao chép, mRNA có thể rời khỏi nhân của tế bào và đi đến tế bào chất, nơi diễn ra quá trình tổng hợp protein. Ở đây, các phân tử phức tạp được gọi là ribosome ‘đọc’ chuỗi các bazơ trên phân tử mRNA. Các axit amin riêng lẻ, kết hợp tạo nên protein, được mã hóa bởi bộ ba mã hóa của chuỗi mRNA. Các mã khác nhau có thể, và các axit amin mà chúng mã hóa, đã được tạo ra. Một loại RNA khác như RNA chuyển vận, chịu nghĩa vụ chuyển vận axit amin đến mRNA và cho phép chúng kết hợp với nhau.

Lỗi trong quá trình sao chép

Tuy nhiên, quá trình này không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Lỗi có thể xảy ra khi sao chép chuỗi DNA vào mRNA và các lỗi tình cờ này được gọi là đột biến. Các lỗi có thể ở dạng bazơ đã đổi thay, hoặc thậm chí là bazơ bị xóa hoặc thêm. Một số hóa chất và bức xạ có thể gây ra những thay đổi này, nhưng chúng cũng có thể xảy ra trong trường hợp không có các tác động bên ngoài này. Chúng có thể dẫn đến mã của một axit amin bị đổi thay thành mã khác hoặc thậm chí không thể đọc được. Một số bệnh có thể do đột biến trong quá trình sao chép DNA, bao gồm xơ nang và thiếu máu hồng huyết cầu hình liềm, nhưng đáng để ý là đột biến cũng có thể có tác động hăng hái.

Mặc dù chỉ có 20 axit amin, thân con người có thể kết hợp chúng để tạo ra một con số đáng ngạc nhiên với khoảng 100.000 protein. Sáng tạo của chúng là một quá trình liên tục và một chuỗi protein duy nhất có thể có 10-15 axit amin được thêm vào mỗi giây. Vì mục đích của bài này cốt yếu là để giới thiệu cấu trúc hóa học của DNA, cuộc luận bàn về sao chép và tổng hợp protein đã được giữ ngắn gọn và tương đối đơn giản. Nếu bạn thích đọc thêm về chủ đề này, hãy xem các kết liên tham khảo được cung cấp ở cuối bài.

Trên đây là những nét ưa và đơn giản về cấu trúc của DNA và cách chúng tạo ra protein. nhìn nhận sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chúng thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Compound Interest , Chemguide , Genome Beth A. Montelone .

Hóa học về testosterone sức mạnh đàn ông

hiện tại những bệnh lý về nam giới như rối loạn cương dương, giảm ham muốn, rụng tóc…ngày càng trở thành phổ thông. Và một trong số những duyên do chính là sự thiếu hụt testosterone. Đây là một loại hormone nội sinh trong thân thể. Việc tăng hay giảm cũng ảnh hưởng phần nào đến sức khỏe của chúng ta. Nhưng khi nói về hóa học của chúng thì không phải ai cũng biết. bởi vậy trong bài viết lần này chúng ta sẽ tìm hiểu về hóa học của testosterone sức mạnh của đàn ông và một số thông tin liên hệ nhé!

để ý: Bài viết này chỉ dành cho mục đích cung cấp thông báo và không dùng để cung cấp tham mưu y tế.

Một vài định nghĩa

Androgen là hormone truyền tín hiệu hóa học (chemical messenger), được thực hành bởi các tuyến trong cơ thể xảy ra trong máu để tác động trên các cơ quan khác trong thân. Hormone này cần thiết cho sự tăng trưởng, sinh sản và hạnh phúc. Androgen là hormone sinh dục nam gia tăng ở độ tuổi dậy thì và cần cho một cậu bé phát triển thành một người trưởng thành về tình dục có thể sinh sản. Trong đó, các androgen quan trọng nhất là testosterone.

Testosterone là androgen quan trọng nhất (hormone sinh dục nam) ở nam giới và nó cần thiết cho chức năng sinh sản và dục tình thường nhật. Testosterone rất quan trọng đối với những thay đổi thể chất xảy ra trong tuổi dậy thì của nam giới, chả hạn như sự phát triển của dương vật và dịch hoàn, và cho đặc điểm tiêu biểu của đàn ông trưởng thành như mặt và lông trên cơ thể và một vóc dáng nam tính. Testosterone cũng tác động lên các tế bào trong tinh hoàn để tạo ra tinh trùng.

Về mặt hóa học thì testosterone là một hormone steroid mạnh có công thức hóa học là C(19)-H(28)-O(2). Ngoài ra, nó còn được gọi là 17-beta-hydroxy-4-androstene-3-one.

Cấu trúc hóa học của Testosterone.

Có hai loại testosterone được tìm thấy trong máu của bạn:

  • Testosterone tự do (còn được gọi là T tự do) là testosterone không bị buộc ràng hóa học với bất kỳ thứ gì khác.
  • Testosterone buộc ràng chiếm phần đông trong tổng mức testosterone của bạn. Khoảng 98 phần trăm testosterone trong máu của bạn được liên kết với một trong hai loại protein: albumin hoặc globulin gắn hormone sinh dục (SHBG).

Testosterone cũng quan trọng cho tổng thể sức khỏe tốt. Nó giúp sự phát triển của xương và cơ bắp, và ảnh hưởng đến tâm cảnh và ham muốn tình dục. Một số testosterone được chuyển đổi thành estrogen, hormone giới tính nữ, và điều này rất quan yếu đối với sức khỏe của xương ở nam giới.

Tổng quan

Testosterone là một hormone sinh dục nam, một trong những nhóm hợp chất được gọi là androgen. Bao gồm trong nhóm này là testosterone, dihydrotestosterone và androstenedione. Các androgen được tổng hợp từ cholesterol và được xem là hormone steroid, tỉ dụ như hormone giới tính nữ estrogen. Sự cô lập và tổng hợp testosterone đã được báo cáo vào năm 1935. Hai nhà hóa học Adolf Butenandt và Leopold Ruzicka sau đó đã nhận được giải thưởng Nobel về hóa học (năm 1939) cho công trình này và những khám phá liên tưởng.

Testosterone (cũng có một lượng nhỏ ở nữ) kích thích sự phát triển của cơ quan sản xuất nam và xúc tiến sự phát triển của các đặc điểm giới tính thứ cấp nam. Nó cũng ảnh hưởng đến sự phân bố lông trên thân thể, chứng hói đầu, giọng nói và độ dày của da và xúc tiến từng nguyên tố sau: sự hình thành tinh trùng, hình thành protein, phát triển cơ bắp, phát triển xương, giữ canxi, tốc độ chuyển hóa cơ bản và số lượng các tế bào hồng cầu trong cơ thể.

Ở nam giới, testosterone được sản xuất và tiết ra quá nhiều bởi tinh hoàn. Sau khi bài tiết, 97 phần trăm testosterone bị buộc ràng bởi chất mang protein trong máu và lưu thông trong thân thể trong ba mươi đến sáu mươi phút. Tại thời khắc này, nó đã được thu nạp bởi các mô khác nhau hoặc bị phân hủy thành các phân tử không hoạt động. đa số testosterone được các mô tiếp nhận khử thành dihydrotestosterone, một bước rất cần thiết để hiện thực hóa một số tác dụng của testosterone. Testosterone không được tiếp thụ bởi các mô sẽ bị suy thoái bởi gan và các sản phẩm của sự thoái hóa này sẽ được đào thải khỏi thân.

Phản ứng khử testosterone thành DHT

Lượng testosterone trong cơ thể

Khi bạn đi thẩm tra mức testosterone, thầy thuốc sẽ xem xét cả mức testosterone tự do và tổng mức testosterone của bạn. Tổng mức testosterone của bạn bao gồm cả testosterone tự do và ràng buộc. Và giá trị này đổi thay trong cả ngày. Chúng cao nhất vào buổi sáng và thấp hơn vào buổi tối.

Phạm vi thông thường của testosterone một phần phụ thuộc vào phòng thí điểm và sự giảng giải của thầy thuốc. Với những gì đã nói, sau đây là một số giá trị chung.

Dành cho nam từ 19 tuổi trở lên:

  • Tổng testosterone nên nằm trong khoảng 240-950 ng/dL
  • Testosterone tự do nên nằm trong khoảng 9-30 ng/dL

Dành cho nữ từ 19 tuổi trở lên:

  • Tổng testosterone nên nằm trong khoảng 8-60 ng/dL
  • Testosterone tự do nên nằm trong khoảng 0,3-1,9 ng/dL

Đơn vị ký hiệu ng/dL có tức thị nanogram/deciliter.

Bạn có thể tham khảo thêm bài viết tại đây để cập nhật thông báo thêm nhé!

Testosterone và nam giới

Một nhóm nghiên cứu do bác sĩ Joel Finkelstein dẫn đầu tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts đã điều tra nồng độ testosterone và estradiol ở 400 người đàn ông khỏe mạnh, từ 20 đến 50 tuổi. Để kiểm soát nồng độ hormone, đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã cho những người tham dự tiêm một loại thuốc ức chế sinh sản testosterone và estradiol bình thường của họ. Những người đàn ông được phân ngẫu nhiên vào 5 nhóm nhận được lượng khác nhau (từ 0 đến 10 gram) của một loại gel testosterone 1% hàng ngày trong 16 tuần. Một nửa số người tham dự cũng được cho dùng một loại thuốc để ngăn chặn testosterone được chuyển đổi thành estradiol.

Những người tham gia đã được nhìn thấy cứ sau 4 tuần. Máu được lấy để đo nồng độ hormone và bảng câu hỏi được đưa ra để đánh giá chức năng thể chất, tình trạng sức khỏe, sinh khí và chức năng tình dục. Số đo mỡ thân và cơ bắp cũng được thực hành vào đầu và cuối 16 tuần.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng liều testosterone cấp thiết để tạo ra các hiệu ứng khác nhau trong thân rất đa dạng. Ảnh hưởng của testosterone và estradiol cũng khác nhau. Khi giảm liều testosterone gel, các nhà khoa học cho thấy, việc giảm khối lượng nạc, kích tấc cơ bắp và sức mạnh của chân do kết quả của việc giảm testosterone. trái lại, sự gia tăng chất béo trong thân là do sự suy giảm liên hệ đến estradiol. Cả nồng độ testosterone và estradiol đều liên can đến ham muốn và chức năng cương dương.

Nghiên cứu này thiết lập chừng độ testosterone mà tại đó các chức năng sinh lý khác nhau bắt đầu bị suy yếu, điều này có thể giúp đưa ra một lý do để xác định người đàn ông nào nên được điều trị bằng các chất bổ sung testosterone. Nhưng điều sửng sốt lớn nhất là một số triệu chứng thường được quy cho sự thiếu hụt testosterone đích thực là một phần hoặc gần như chỉ do sự suy giảm estrogen là kết quả không thể tách rời của mức testosterone thấp hơn.

Các nhà nghiên cứu đang tiến hành các thí điểm lâm sàng tiếp theo để giải quyết các tác động của việc thay thế testosterone cả về các biện pháp trong nghiên cứu này và các nghiên cứu khác, chả hạn như sức khỏe của xương và tuyến tiền liệt.

Vậy điều gì xảy ra khi lượng testosterone thấp và cao hơn thông thường?

A. Testosterone thấp

Theo một bài báo của Trường Y Harvard cho biết chừng độ testosterone (gọi tắt là T) giảm thiên nhiên theo tuổi tác, nhưng chuẩn xác chừng độ nào cấu thành ” T thấp “, hay suy sinh dục đang gây bàn cãi. Mức testosterone khác nhau rất nhiều, và thậm chí có thể khác nhau tùy thuộc vào thời kì trong ngày chúng được đo (chừng độ có thiên hướng thấp hơn vào buổi tối). Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (gọi tắt là NIH) thì những điều sau đây là triệu chứng có thể có của testosterone thấp:

  • Giảm thèm muốn dục tình
  • Rối loạn cương dương hoặc bất lực
  • Tăng kích tấc vú
  • Số lượng tinh trùng giảm
  • Nóng bừng
  • Trầm cảm, khó chịu và không có khả năng hội tụ
  • tinh hoàn teo lại và mềm
  • Mất khối lượng cơ hoặc tóc
  • Xương dễ bị gãy

Tuy nhiên, điều quan yếu cần lưu ý là các điều kiện khác với T thấp có thể gây ra rối loạn chức năng cương dương, chẳng hạn như các bệnh về thần kinh hoặc máu.

Các bác sĩ thường điều trị cho nam giới bị suy sinh dục nếu họ có triệu chứng testosterone thấp và nồng độ testosterone của họ dưới 300 nanogram mỗi deciliter.

B. Testosterone cao

Nồng độ testosterone cao có thể gây ra vấn đề ở Phụ nữ, bao gồm chu kỳ kinh nguyệt không đều, làm tăng lông trên thân thể và mụn trứng cá, và làm cho giọng nói trầm hơn. Phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang có lượng hormone nam cao, bao gồm testosterone, có thể là nguyên nhân gây vô cơ.

Liệu pháp testosterone

Testosterone lần trước nhất được sử dụng như một loại thuốc lâm sàng vào đầu năm 1937, nhưng ít hiểu biết về cơ chế của nó. Hormone hiện được kê toa rộng rãi cho những người đàn ông có thân tự nhiên sản xuất chừng độ thấp. Nhưng mức độ thiếu hụt testosterone có can dự về mặt y tế vẫn chưa được hiểu rõ. sản xuất testosterone thông thường rất khác nhau ở nam giới, thành thử thật khó để biết mức độ nào có ý nghĩa y tế. Cơ chế hoạt động của hormone cũng không rõ ràng.

Đối với những người lo lắng về testosterone thấp hoặc cao, bác sĩ có thể thực hiện xét nghiệm máu để đo lượng hormone trong máu của bệnh nhân. Khi các thầy thuốc tìm thấy “T-thấp”, họ có thể kê toa liệu pháp testosterone, trong đó bệnh nhân dùng phiên bản nhân tạo của hormone. Điều này có sẵn trong các hình thức sau: một loại gel được ứng dụng cho cánh tay trên (upper arm), vai hoặc bụng hàng ngày; một miếng dán da đặt trên cơ thể hoặc bìu hai lần một ngày; một dung dịch áp dụng cho nách; tiêm hai hoặc ba tuần một lần; một miếng dán đặt trên nướu hai lần một ngày; hoặc cấy ghép kéo dài bốn đến sáu tháng.

Đàn ông dùng gel testosterone phải có biện pháp phòng ngừa, chả hạn như rửa tay và che các khu vực nơi sử dụng gel, theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (gọi tắt là FDA) . nữ giới và trẻ thơ không nên chạm vào gel hoặc da nơi bôi gel hoặc miếng dán.

Ở những người đàn ông lớn tuổi bị thiếu hụt testosterone thực thụ, các chuyên gia cho biết điều trị bằng testosterone đã được chứng minh là làm tăng sức mạnh và thèm muốn dục tình. Nhưng thỉnh thoảng, các triệu chứng rối loạn cương dương là do các tình trạng khác, bao gồm bệnh tiểu đường và trầm cảm, theo Mayo Clinic . Điều trị những người đàn ông này bằng hormone testosterone sẽ không cải thiện triệu chứng.

Có rất nhiều tuyên bố khác về những gì liệu pháp testosterone có thể làm, nhưng vẫn đang được thử nghiệm. Ví dụ, người ta đã nghĩ rằng có nhẽ nó sẽ giúp giảm chứng mất trí nhớ liên hệ đến tuổi. Một nghiên cứu kiểm soát giả dược năm 2017 được công bố trên Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (gọi tắt là JAMA), cho thấy trong 788 người đàn ông lớn tuổi được thí nghiệm, điều trị bằng testosterone không giúp giảm chứng mất trí nhớ do tuổi tác .

Nó cũng có thể trở thành một phương pháp điều trị cho bệnh thiếu máu, mật độ xương và các vấn đề sức mạnh. Trong một nghiên cứu năm 2017 được ban bố trên tập san của JAMA, phương pháp điều trị bằng testosterone đã điều chỉnh bệnh thiếu máu ở những người đàn ông lớn tuổi có nồng độ testosterone thấp tốt hơn so với giả dược. Một nghiên cứu khác năm 2017 được ban bố trên JAMA cho thấy những người đàn ông lớn tuổi có testosterone thấp đã tăng sức mạnh và mật độ xương sau khi điều trị khi so sánh với giả dược.

Phản ứng phụ

Sự an toàn của điều trị testosterone vẫn đang được nghiên cứu. Nó có một số tác dụng phụ có thể và một số tác dụng dài hạn có thể là tốt.

Ví dụ, điều trị bằng testosterone làm giảm số lượng tinh trùng , cho nên Michael A. Werner, một chuyên gia về andropological, hay “mãn kinh nam giới”, khuyến cáo rằng những người đàn ông mong muốn khả năng sinh sản trong mai sau nên tránh các phương pháp điều trị bằng testosterone.

Theo một nghiên cứu năm 2009 tại trọng điểm Y tế Boston, các tác dụng phụ khác bao gồm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về tim ở những người đàn ông lớn tuổi, khả năng di chuyển kém. Một nghiên cứu năm 2017 được ban bố trên JAMA cho thấy các phương pháp điều trị làm tăng thể tích mảng bám động mạch vành. ngoại giả, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đề nghị các nhà sản xuất phải kèm theo thông tin về việc ghi nhãn rằng các quốc gia đang điều trị bằng testosterone có thể dẫn đến nguy cơ đau tim và đột quỵ. FDA khuyến cáo rằng bệnh nhân dùng testosterone nên đi khám ngay nếu họ có những triệu chứng sau:

  • Đau ngực
  • Khó thở hoặc có vấn đề về thở
  • Yếu ở một phần hoặc một bên của thân
  • Nói lắp

Theo Mayo Clinic thì việc điều trị cũng có thể làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ, thúc đẩy tuyến tiền liệt và vú phát triển, và thậm chí khuyến khích sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.

Trên đây là những điều thú vị về hóa học của testosterone sức mạnh đàn ông. dòm sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ đến hóa học đằng sau nhé!

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho mục đích cung cấp thông báo và không dùng để cung cấp tư vấn y tế.

Tham khảo Verywellheath , NIH , Chemistry Explained , Livescience , Healthymale VMA .

Thời Tiết

Lời Dặn Dò

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến