Vào ngày 16 tháng 03 năm 2020, vắc xin Moderna COVID-19 đã bước vào thử nghiệm thời đoạn 1, trở nên vắc xin COVID đầu tiên làm được điều này. Điều này xảy ra chưa đầy một tuần sau khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố COVID-19 là một đại dịch toàn cầu. Làm thế nào mà điều này lại có thể xảy ra nhanh chóng như vậy? Phần thứ ba của loạt bài về COVID-19 này sẽ cung cấp cho các bạn góc nhìn tổng quan ngắn gọn về công trình trước đó và những gì mà các thử nghiệm giai đoạn 1 đã xem xét. Bạn hãy giành ít thời kì để tham khảo nhé!
Đôi nét
Vắc xin của Moderna, giống như của Pfizer / BioNTech, là vắc xin RNA , một công nghệ trước đây chưa được sử dụng trong một sản phẩm đã được duyệt. hao hao, công nghệ vectơ vi-rút được sử dụng trong vắc xin Oxford / AstraZeneca trước đây chưa được bằng lòng để chủng ngừa các bệnh khác. Tuy nhiên, nghiên cứu về cả hai công nghệ vắc xin này đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ nay – công việc quan yếu cho phép các loại vắc xin này được sản xuất chóng vánh để đối phó với đại dịch.
Khái niệm vắc xin dựa trên RNA lần trước nhất được đề xuất vào năm 1990. Trong những năm sau đó, trong các thí nghiệm trong phòng thử nghiệm đã chỉ ra rằng mRNA có thể tạo ra nhiều loại miễn dịch khác nhau. cầm đầu tiên trong việc sản xuất vắc xin dựa trên mRNA là vào năm 1993, đó chính là vắc xin RNA mã hóa kháng nguyên cúm tạo ra phản ứng miễn nhiễm ở chuột .
Mặc dù thành công nhưng có một thách thức đối với sự thành công của vắc xin mRNA là tính phong phanh của mRNA tổng hợp. Hệ thống miễn dịch của thân thể chúng ta cực kỳ hiệu quả trong việc phát hiện những kẻ thâm nhập, và mRNA tổng hợp mau chóng được xác định và toá trước khi nó có thể tiếp cận các tế bào đích, khiến bất kỳ loại vắc xin nào cũng trở thành vô ích.
Một số giải pháp
Giải pháp là phát triển một dạng ngụy trang cho mRNA. mRNA được tạo thành từ các sườn được gọi là nucleoside. Nhà sinh hóa học Katalin Karikó và nhà miễn nhiễm học Drew Weissman đã phát hiện ra rằng bằng cách hoán đổi các nucleoside này cho một nucleoside rưa rứa nhưng khác về cấu trúc, mRNA có thể thoát khỏi dưới sự dò tìm của hệ thống miễn nhiễm của chúng ta.
Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn giải quyết được vấn đề. Mặc dù hệ thống miễn nhiễm không còn được kích hoạt bởi sự hiện diện đơn thuần của mRNA, nhưng các enzym trong cơ thể chúng ta vẫn có thể phá vỡ nó trước khi nó có thể tiếp cận các tế bào của chúng ta. Một sự đổi mới khác là cấp thiết: một cách đóng gói mRNA và tải nó đến các tế bào.
Một số phương pháp đã được phát triển để thực hiện việc này, nhưng phương pháp được dùng bởi vắc xin COVID RNA hiện tại là bao gói hạt nano lipid. Các hạt nano lipid là những giọt chất béo rất nhỏ, và việc dùng chúng để chuyên chở mRNA trong tế bào của chúng ta đã được nghiên cứu trong thập kỷ qua . Nghiên cứu này đã xác định sự phối hợp tốt nhất của các loại lipid khác nhau để bảo vệ mRNA một cách đầy đủ, và nó đóng vai trò quan yếu đối với sự thành công của vắc xin COVID RNA.
Các vắc xin vectơ vi-rút, trong đó vắc xin Oxford / AstraZeneca là một ví dụ, còn thiếu nhiều nghiên cứu trước đó. cội nguồn của những loại vắc xin này thậm chí còn đi xa hơn so với những loại vắc xin RNA, từ những năm 1980.
Một số nghiên cứu
ban sơ, trọng tâm của nghiên cứu về vectơ vi-rút là điều trị các bệnh di truyền, với hy vọng rằng vectơ vi-rút có thể cung cấp một gen có thể điều chỉnh các đột biến gây ra chúng theo một cách nào đó. Vấn đề là phương pháp này đề nghị liều lượng cao, hoạt động giống như một cơn bùng phát đối với hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, có khả năng gây ra tình trạng viêm lớn.
Mặc dù điều này không hữu ích cho các phương pháp tiếp cận liệu pháp gen, nhưng phản ứng miễn nhiễm có khả năng bổ ích đối với các nhà phát triển vắc xin và bắt đầu nghiên cứu cách dùng vectơ vi-rút để sinh sản vắc xin. Trong những năm 2000, việc phát triển vắc xin vectơ siêu vi khuẩn tụ hội vào HIV, sốt rét và bệnh lao, với thành công hạn chế. dù rằng vắc-xin đã được sinh sản cho HIV và được chứng minh là an toàn, nhưng thí điểm thêm trên người cho thấy nó không hoạt động.
Tuy nhiên, các cải tiến gia tăng đã theo sau. Vào năm 2017, Trung Quốc đã thông qua một loại vắc xin chống lại Ebola dùng vectơ vi-rút, đây là loại vắc xin trước nhất được chuẩn y. dù rằng các thí nghiệm cho thấy nó tạo ra phản ứng miễn dịch, nhưng không có đủ bằng chứng cho thấy nó ngăn ngừa nhiễm trùng.
Mối quan hoài xung quanh việc vắc xin HIV thất bại và ở chừng độ thấp hơn là vắc xin Ebola, đây là loại vi-rút được sử dụng để tạo ra vectơ vi-rút có thể có phản ứng tiêu cực đối với phản ứng miễn nhiễm mà nó tạo ra. Đối với cả hai tỉ dụ này, các vectơ adenovirus ở người đã được dùng – cụ thể là một loại virus có tên là Ad5. Đây là một trong số các loại vi-rút có thể gây ra cảm lạnh thường ngày. chẳng thể tránh khỏi, điều này có nghĩa là một số người trong chúng ta đã tiếp xúc với nó, và do đó có khả năng miễn dịch từ trước. Đây là một tin xấu đối với vắc xin vectơ vi-rút, vì nó có thể làm giảm hiệu quả của chúng.
Vì lý do này, một số vắc xin vectơ vi-rút cho COVID-19, bao gồm vắc xin Oxford / AstraZeneca , sử dụng vectơ adenovirus của linh trưởng. phần đông mọi người sẽ không có khả năng miễn nhiễm từ trước đối với những loại vi-rút này, có tức là chúng sẽ không có tác động tiêu cực đến hiệu quả của vi-rút.
Nó không chỉ là nghiên cứu trước đây về vắc xin bổ ích trong việc sinh sản vắc-xin chống lại COVID-19. Nghiên cứu trước đây về các coronavirus khác cũng đã giúp tụ họp các núm sinh sản vắc xin. Dịch SARS năm 2003 và dịch MERS năm 2012 đều do các loại coronavirus khác nhau gây ra.
Thuốc chủng ngừa không bao giờ được sinh sản để chống lại các coronavirus gây ra những đợt bùng phát này; điều này một phần là do tỷ lệ hiện mắc của chúng thấp hơn so với COVID-19, và cũng là kết quả của việc các công ty dược phẩm thiếu các biện pháp khuyến khích để sản xuất vắc xin phòng các bệnh không phổ quát. Tuy nhiên, các núm phát triển vắc xin vẫn diễn ra và các bài học kinh nghiệm từ những nuốm này đã được tính đến khi thiết kế vắc xin cho COVID-19 .
Câu chuyện thí nghiệm vắc xin
tất tật các vắc xin COVID đều đã sang các thí nghiệm tiền lâm sàng – những thử nghiệm này không liên quan đến con người, thay vào đó thử nghiệm vắc xin trong các tế bào cô lập và trên động vật để bảo đảm rằng chúng an toàn và tạo ra phản ứng miễn dịch. thường ngày, vắc xin cần phải hoàn tất tuổi này trước khi chúng tiến hành thí điểm tuổi 1, nhưng trong trường hợp vắc xin COVID, việc khẩn cấp sinh sản chúng có tức là một số thể nghiệm thời đoạn 1 sớm được thực hành đồng thời với các thí nghiệm tiền lâm sàng để đẩy nhanh tiến độ. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là các bài soát này vẫn được hoàn tất, thành thử nhìn chung không có góc nào bị cắt.
Các thử nghiệm giai đoạn 1 chỉ đơn giản là nhằm mục đích soát vắc xin có an toàn trên người hay không. Chúng cũng có thể được sử dụng để lấy một số ý tưởng về liều lượng tối ưu của vắc xin ở người, điều mà thí nghiệm tuổi 1 của Moderna đã kiểm tra bằng cách chia những người tham gia thành các nhóm khác nhau, những người được tiêm các lượng vắc xin khác nhau. Những thể nghiệm này cũng có thể giúp xác định các tác dụng phụ thường gặp, điều này sẽ tiếp kiến được theo dõi trong các giai đoạn sau của thử nghiệm.
rốt cuộc, các thí điểm tuổi 1 cho thấy vắc xin COVID-19 hiện đã được phê duyệt là an toàn để dùng trên người. Một số ứng cử viên vắc xin đã rơi vào rào cản đầu tiên: ứng cử viên vắc xin Merck đã bị rút lại vào tháng 1 năm 2021 sau khi các thí điểm thời đoạn 1 cho thấy phản ứng miễn nhiễm ở những người được tiêm vắc xin kém hơn so với những người đã có COVID, và cũng kém hơn các phản ứng đã thấy đối với các loại vắc xin khác.
Hy vọng rằng những nỗ lực tạo ra vắc xin COVID cũng sẽ tương trợ phát triển vắc xin cho các bệnh khác trong tương lai. tỉ dụ, đã có một loại vắc xin RNA đang được phát triển cho bệnh sốt rét . Và hiện nay chúng ta đã có vắc xin, người ta cũng hy vọng rằng nếu các biến thể của SARS-CoV-2 xuất hiện mà vắc xin hiện tại kém hiệu quả hơn, thì sẽ tương đối dễ dàng để điều chỉnh các vắc xin hiện có để chống lại chúng.
Bài viết đến đây là hết rồi. trông sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!
Tham khảo Compound Interest .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét